TS. Nguyễn Hồng Ngọc
Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Bách Khoa, Đại học Đà Nẵng
Trong buổi Hội thảo Điều chỉnh quy hoạch thành phố Hội An, tôi đã có một số góp ý cho Hội thảo. Phần dưới đây được viết lại cho rõ hơn. Có bốn vấn đề mà Bản điều chỉnh quy hoạch cần làm tốt hơn đó là các vấn đề: Vấn đề tầm nhìn, vấn đề liên kết vùng, vấn đề cột trụ kinh tế và vấn đề mạng lưới đường (không phải giao thông chung chung mà là đánh giá mạng lưới đường hiện có và đề xuất mạng lưới đường mới).
Tầm nhìn:
Trong đồ án cần phải xác định tầm nhìn cho Hội An một cách rõ ràng và chính xác hơn. Cái mà tư vấn đưa ra hiện tại chưa phải là một tầm nhìn cho Hội An. Tầm nhìn phải khả thi và thực hiện được. Lâu nay trong các đồ án quy hoạch chúng ta đều có tầm nhìn. Tuy vậy phần lớn tầm nhìn viết ra rồi bỏ đó và thường mang tính minh hoạ không rõ là nó có liên hệ gì với phần còn lại của đồ án và thực hiện tầm nhìn đó như thế nào. Đúng ra tầm nhìn phải là cái dẫn đường, là tư tưởng chủ đạo cho toàn bộ hoạt động của đô thị trong tương lai.
Thứ hai, tầm nhìn đồng thời phải phản ảnh các giá trị cốt lõi (core values) đang có của Đô thị Hội An. Như vậy cần phải xác định giá trị cốt lõi của Hội An một cách khoa học (cả về khía cạnh đô thị truyền thống, vùng nông thôn và vùng phụ cận và biển đảo). Từ giá trị cốt lõi này mới xây dựng một tầm nhìn đủ lớn và khả thi cho quy hoạch Hội An.
Dựa theo nghiên cứu của tôi, các lực kiến tạo nên hình thức đô thị Hội An trong quá khứ (từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX) là yếu tố mặt nước và thương mại, sự hợp cư và sự liên thuộc của các cộng đồng dân cư đa sắc tộc, sự thống trị của quyền lực quân chủ của các chúa Nguyễn, sự tăng cường và mở rộng liên tục hình thức đô thị qua các thế hệ[1]. Theo tôi, các lực kiến tạo này ngày nay vẫn tồn tại một cách bền bỉ trong không gian đô thị Hội An. Các lực kiến tạo này có thể gợi ý cho giá trị cốt lõi của Hội An: đó là yếu tố mặt nước, là sự sẵn sàng tiếp nhận các yếu tố bên ngoài, tính hiện đại và quốc tế của Hội An.
Trong tầm nhìn đó cần nhận thức vấn đề quy hoạch không thuần tuý và chỉ bao gồm phát triển. Có khi không phát triển, không xây dựng cũng là quy hoạch.
Vấn đề tầm nhìn liên quan mật thiết đến hình ảnh đô thị và bản sắc. Bản sắc Hội An được bảo tồn và duy trì bằng nhiều cách. Từ đặc điểm địa hình tự nhiên của Hội An, từ các thành phần sông, biển, đảo, đô thị cổ. Nhưng còn một khía cạnh nữa là cần xây dựng một hình ảnh đô thị khác biệt cho Hội An. Muốn thế cần phải có vùng đệm (green zone) ngăn cách Đà Nẵng và Hội An. Hiện tại nếu đi từ Đà Nẵng vào Hội An với nhà liền kề sát nhau cùng một thể loại mà không có khoảng đệm giữa hai đô thị, chúng ta không thấy có sự khác biệt về hình thức đô thị giúp ta phân biệt được đây là hình thức đô thị Hội An chứ không phải Đà Nẵng.
Liên kết vùng: giao thông đường thuỷ với sông Cổ Cò và sông Trường Giang
Đồ án vẫn chưa đề cập tới vấn đề liên kết thành phố và liên kết vùng. Chẳng hạn phải quan niệm Hội An sẽ như thế nào trong mối quan hệ với khu vực phía nam sông Thu Bồn. Ở đó hiện nay đang có một dữ kiện mới là Đại lộ Võ Chí Công, chạy từ nam Hội An đến sân bay Chu Lai. Với đại lộ này đã hình thành hai hành lang phía nam Hội An. Một là đại lộ Võ Chí Công vừa nói tới, hai là con sông Trường Giang. Nói thêm một ít về chủ đề này, con sông này và đại lộ Võ Chí Công sẽ mang đến cơ hội và vận hội phát triển mới cho vùng đất giữa hai hành lang giao thông vừa nói.
Về phía bắc thì Hội An có dòng sông huyền thoại và lịch sử, sông Cổ Cò nối liền với Đà Nẵng.
Như vậy chúng ta có trục giao thông đường thuỷ theo hướng Bắc-Nam nối Hội An với Đà Nẵng và Quảng Nam là trục sông Cổ Cò và sông Trường Giang. Chúng ta còn có trục giao thông đường thuỷ theo hướng Đông-Tây là sông Thu Bồn. Nhận thức các thành tố mặt nước này là rất quan trọng cho sự phát triển của Hội An. Vì nước đi đến đâu thì sự sống đi đến đó.
Các con sông này song song cùng với mạng lưới giao thông đường bộ sẽ hỗ trợ và tăng cường hoạt động kinh tế và văn hoá cho những vùng đất giữa chúng. Đồ án phải cho thấy được mối liên hệ khăng khít giữa Hội An với Đà Nẵng và phía Nam Quảng Nam, cũng như thấy được giá trị tiềm năng của vùng đất giữa các hệ thống giao thông đường thủy và đường bộ, một khi hệ thống này phát triển.
Cơ sở kinh tế: tránh kinh tế đơn cực (phát triển cụm kinh tế (economic cluster) gồm du lịch, nông nghiệp và ngư nghiệp trình độ cao, kinh tế số)
Hội An cần tìm ra con dường đa dạng hoá nền kinh tế. Với đại dịch Covid vừa qua, một điều quá rõ ràng là Hội An không thể chỉ dựa vào một cột trụ là du lịch. Việc đa dạng hoá nền kinh tế này có thể hình thành nhóm tập trung xung quanh thành phần nòng cốt là du lịch, nhưng ngoài du lịch phải có các thành phần kinh tế khác nhưng gần với du lịch để tạo thành một cụm kinh tế gần nhau (thuật ngữ economic cluster). Chẳng hạn:
• Du lịch xanh, bền vững
• Nông nghiệp và ngư nghiệp có giá trị cao
• Xây dựng một nền kinh tế số.
Khi nói đến một nền kinh tế số, ta phải mở rộng ra không chỉ bao gồm các loại hình kỹ thuật số mà ta biết hiện tại mà phải biết đến những thành phần của một nền kinh tế số đang manh nha và phát triển trên thế giới, tạo nên một tiền lệ và một cơ hội chưa từng có trong lịch sử loài người, đó là khả năng dân chủ hoá nền tài chính, là hiện thực hoá một nền kinh tế chia sẻ. Cụ thể, đó là một nền tài chính phi tập trung (deFi), công nghệ blockchain, metaverse (thực tại ảo, thực tại gia cường) v.v…Thế giới hiện nay đang trải qua một cuộc cách mạng lớn trong đó kinh tế số mang lại những giá trị mới như dân chủ trong tài chính, minh bạch trong quá trình giao dịch. Xu thế này là không thể đảo ngược và chúng ta đang đứng ở chặng đường đầu của nền kinh tế số này. Thời điểm hiện tại cũng giống như năm 2000 khi chúng ta đang ở giai đoạn đầu của kinh tế internet.
Hội An có trong mình một khả năng tiếp thu cái mới, cái sáng tạo rất nhanh. Vậy nên có thể xây dựng một nền kinh tế số riêng theo kiểu Hội An mà không cần phải giống với Đà Nẵng hay Tp Hồ Chí Minh. Hội An không cần phải có một công viên phần mềm như Đà Nẵng hay Tp Hồ Chí Minh mà một loại kinh tế số có thể nhỏ thôi nhưng rất hiệu qủa. Vấn đề này các nhà hoạnh định chính sách, nhà kinh tế, doanh nghiệp và giới nghiên cứu cần phải tìm cho ra.
Mạng lưới đường: đánh giá một cách khách quan và khoa học mạng lưới đường với các công cụ định lượng như Space Syntax hoặc MCA
Mạng lưới đường cung cấp dòng di chuyển của người và hàng hoá trong đô thị. Tương tự như các mạch máu cung cấp chất dinh dưỡng cho cơ thể người, mạng lưới đường là cơ sở cho mọi hoạt động kinh tế và văn hoá cho thành phố. Chính vì thế các nghiên cứu chỉ ra rằng, mạng lưới đường như thế nào thì hoạt động sử dụng đất đi theo như thế đó. Nơi nào thuận tiện trong mạng lưới đường thì nơi đó có tiềm năng kinh tế và văn hoá cao. Tính chất tiềm năng này được lượng hoá thông qua các chỉ số của phương pháp Space Syntax và MCA (đánh giá đa trung tâm Multiple Centrality Assessment).
Để đánh giá mạng lưới đường nội thị và ngoại thị ở Hội An cần sử dụng các phương pháp khách quan từ đó xác định các phân vùng quy hoạch và quy hoạch giao thông; bản Điều chỉnh quy hoạch cần các công cụ khách quan và ít cảm tính hơn các phân tích hiện tại. Chẳng hạn sử dụng phương pháp Space Syntax hoặc Multiple Centrality Assessment (MCA hay đánh giá đa trung tâm) là các phương pháp định lượng, sử dụng toán học để phân tích mạng đặc điểm topo (sự quan hệ lẫn nhau) của các tuyền đường. Từ đó bản quy hoạch mới đưa ra các đánh giá về hiệu quả các tuyến đường đã có và đường cần phải mở mới. Trong phần 2, tôi sẽ cung cấp các bản đồ phân tích mạng lưới đường này dựa theo phương pháp MCA là phương pháp tiên tiến nhất hiện nay để đánh giá mạng lưới đường.
Một số vấn đề cụ thể khác:
• Cần chuẩn bị nguồn lực (bao gồm cả thời gian và con người) cho việc xây dựng Quy chế quản lý kiến trúc cho Hội An. Thực tế chứng tỏ rằng không có quy chế quản lý tốt thì đồ án quy hoạch dù tốt đến đâu cũng không thể thực hiện được. Quy chế quản lý kiến trúc đô thị là cái cụ thể hoá quy hoạch. Giúp cho cơ quan quản lý nhà nước quản lý chi tiết và hiệu quả sử dụng đất đô thị và hình thái kiến trúc đô thị.
Một trong các gợi ý là xây dựng quy chế quản lý kiến trúc đô thị dựa theo hình thức (form-based codes)[2]. Quy chế này cho phép tất cả các bên liên quan (bao gồm giới chức chính quyền, người dân, nhà chuyên môn, nhà đầu tư phát triển bất động sản) hình dung cụ thể hình thức đô thị trong tương lai như thế nào. Ưu điểm thứ hai của quy chế dựa theo hình thức là minh bạch hoá quá trình phát triển. Nhà phát triển bất động sản, chính quyền và người dân đều biết chỗ nào được xây dựng loại công trình gì và được xây dựng với mật độ hay chiều cao như thế nào.
• Yếu tố thời gian (thời hiệu): Sau khi quy hoạch sẽ có một số khu vực kiến trúc hoặc sử dụng đất sẽ không phù hợp với quy hoạch mới. Vậy bản quy hoạch phải cho nhà đầu tư thời gian hiệu chỉnh (tiếng Anh: amortization). Sau thời gian hiệu chỉnh này tất cả các loại sử dụng đất và công trình không phù hợp đều không được phép xây dựng.
• Chống xói mòn và sạt lở: phải thuận theo Mẹ thiên nhiên: những khu vực bị sạt lở và xói mòn nhiều nhất là bờ biển Cửa Đại và các cồn trên sông Thu Bồn.
Theo dõi các bản đồ khu vực cửa đại từ năm 1926 đến khoảng những năm 1980 chúng ta có thể thấy sự biến chuyển liên tục của Cửa Đại. Khi thì bờ biển dịch ra, khi thì dịch vào, khi thì các cồn ở giữa biển hình thành, khi thì biến mất. Điều đó chứng tỏ rằng đường bờ biển Cửa Đại được xác định bởi ý chí của Mẹ thiên nhiên. Cụ thể hơn là bởi sự cân bằng của các lực của dòng chảy ven bờ, yếu tố thuỷ triều, kiến tạo của tầng đất ven biển. Cho nên việc cố kháng lại sức mạnh thiên nhiên này là vô ích. Theo tôi, nên dừng đầu tư ở khu vực này, dừng các dự án chống xói mòn bờ biển Cửa Đại và cho phép các nhà đầu tư một giai đoạn để thu hồi vốn (10 hay 20 năm chẳng hạn) đối với các dự án đã có[3]. Thuật ngữ chuyên môn trong quy hoạch gọi là Định ra thời hạn cho loại sử dụng đất không tương hợp (amortization). Sau thời hạn này không cho phép xây dựng ở khu vực Cửa Đại nữa.
Đối với các khu vực chịu xói mòn trên các cồn sông Thu Bồn cũng tương tự như vậy. Ở các khu vực sạt lở. Nếu không thể dùng các giải pháp tự nhiên như trồng dừa nước để giữ đất còn lại trên bờ thì không dùng các giải pháp cứng như kè đá. Vì thứ nhất các giải pháp nhân tạo như thế này rất tốn kém mà kinh phí thì phần lớn nhà nước phải chịu. Thứ hai, nếu khu vực có dừng bị xói lở một thời gian thì các hiện tượng trên sẽ tiếp tục trong giai đoạn sau (lực xói mòn do dòng chảy sẽ vẫn ngày đêm tác động và làm xói mòn bờ đất). Sau khi dừng can thiệp vào chống xói mòn thì cũng yêu cầu doanh nghiệp sau một thời gian nhất định (chẳng hạn 10-20 năm) dừng không đầu tư nữa và từ đó về sau không cho phép xây dựng trên các cồn đảo trên sông. Căn cứ để làm ra các quyết định này là bản Quy hoạch tổng thể và được cụ thể hoá trong Quy chế quản lý kiến trúc đô thị.
[1] Hong Nguyen, N. (2017). Generative forces shaping the traditional city: the case of Hoian, Vietnam. Journal of Urbanism: International Research on Placemaking and Urban Sustainability, 10(2), 231-253.
[2] Viện Form-based Codes: https://formbasedcodes.org/definition/ [truy cập 10 tháng 12 năm 2022]
[3] Xem bài Phương pháp xác định thời hạn cho loại sử dụng đất không tương hợp (amortization) của Magaret Collins https://openscholarship.wustl.edu/cgi/viewcontent.cgi?referer=&httpsredir=1&article=1476&context=law_journal_law_policy
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét