Nguyễn Hồng Ngọc
Peter
Hall bắt đầu chương
viết về “Thành phố của các tòa tháp” với nhân vật lừng danh của
kiến trúc và đô thị thế kỷ 20 Le Corbusier. Ông tự hỏi tại làm sao
ảnh hưởng của Le Corbusier lại lớn đến thế, ở mức độ tốt nhất là
đáng nghi nghờ kết quả, ở mức độ xấu là thảm họa của quy hoạch.
Có lẽ
không cần phải nói nhiều về nhân vật nổi tiếng này. Le Corbusier sinh
ra ở Thụy Sĩ, trong một gia đình làm đồng hồ. Mà theo Peter Hall thi
người Thụy Sĩ nỏi tiếng về sự gọn gẽ, ngăn nắp, có lẽ đó cũng
làm những dấu vết làm nên Le Corbusier trong quy hoạch, ông ta không thể
chịu đựng nổi sự lộn xộn, hỗn độn của Paris vào thời mà ông ta đang
sống.
Phản ứng của Le Corbusier đối với Paris là phản ứng đối với một thành phố đô hội, hỗn độn và có phần nhớp nhúa. Hình mẫu mà Le Corbusier ngưỡng mộ là Louis XIV, là Napoleon và Nam tước Hausmann, ông ta coi họ như những nhà quy hoạch vĩ đại
Đề
xuất đầu tiên của Le Corbusier trong quy hoạch là bản quy hoạch Voisin,
lấy tên theo nhà tài trợ cho dự án là một công ty chuyên sản xuất
máy bay, chẳng thế mà ta thấy máy bay ban lượn vòng vèo trong bản quy
hoạch của ông ta bất chấp quyển điều khiển không lưu. Trong quy hoạch
này Le Corbusier để xuất 18 khối nhà cao tầng giống hệt nhau, một tòa
cao 210 m. Đê thực hiện được quy hoạch Le Corbusier đế xuất phá hủy
phần lớn bờ Bắc sông Seine (chỉ giữ lại một vài công trình lớn như Điện
Vendome, một công trình mà ông ta coi như hình mẫu về trật tự). Đáp
lại sự hăm hở của Le Corbusier là phản ứng dữ dội của công chúng và
các tầng lớn nhân dân Pháp, họ gọi ông ta là tên man rợ (nguyên văn:
barbarian)
Nhưng Le Corbusier không nản chí ông ta vẫn một mực tin rằng “Công cuộc thiết kế thành phố quá quan trọng đến mức không thể để cho dân thường tham dự vào”
Tiếp
đó ông ta đề xuất La Ville
contemporaine ( Thành phố Đương đại ) năm 1922 và La Ville radieuse (Thành phố Rực rõ hào quang) năm 1933. Trong
đó ông ta đề xuất giải tỏa phần trung tâm thành phố bằng cách tăng
cường mật độ. Thứ nữa là cải thiện giao thông và tăng thêm khoảng
không gian mở. Để thực hiện nhiệm vụ đó, cần phaai xây dựng nhà cao
tầng trên một khu vực diện tích nhỏ mà thường là trung tâm thành
phố.
Le Corbusier nói “...thành phố đang bị chết dần đi, bởi vì nó không được câu trúc theo phương thẳng đứng” và “...trung tâm thành phố hiện tại cần phải bị xóa xổ”. Mọi sự có vẻ như đơn giản và dễ dàng, nhưng nó lại chứa đưnng những thất bại lớn lao tiềm tàng, chẳng hạn như có nhà nghiên cứu đã chỉ ra một trong những vấn đề của các thành phố của Le Corbusier là chúng không đề cập đến bãi đỗ xe, trong khi đó là một thành phố theo định hướng cho ô tô cá nhân, thứ hai là ở đây tác giả không hề đề cập đến các vấn đề như ô nhiễm môi trường: tiếng ồn và khí thải xe chẳng hạn.
Các thành phố của Le Corbusier còn là các thành phố có mức độ chia rẽ (segregation) theo giai cấp rất lớn. Trong các tòa cao tầng của Le Corbusier thì các tòa nhà trung tâm dành cho tầng lớn tinh hoa (elite cadres), các nhà khoa học, các nghệ sĩ. Le Corbusier dự định trong Thành phố Rực rỡ hào quang rằng có 24 tòa nhà dành cho 400,000 đến 600,000 người. Tổng cộng trải trên một diện tích 1200 mẫu Anh (khoảng 540 hecta)
Và Chandigarh
Chandigarh
vốn là thủ đô của bang Punjab, Ấn Độ sau khi dành được độc lập.
Chính quyền của bang này ban đầu thuê Albert Mayer- một người theo
truyền thống quy hoạch của Raymon Unwin, Barry Parker và Frank Lloyd
Wright. Mà chính quyền đã có được một quy hoạch khá theo kiểu này
và đã chuẩn thuận quy hoạch đó. Nhưng lúc đó những người hoạch định
chính sách lại mời một đoàn chuyên gia kiến trúc nổi tiếng thế giới
đến để cho ý kiến. Kết quả là một thảm họa cho Albert Mayer, với
việc Le Corbusier chiếm lấy toàn bộ công việc, quyết định từ những
chi tiết nhỏ nhất. Maxwell Fry đã thuật lại rất sống động cảnh Le
Corbusier phủ nhận công việc của người khác rất sống động trong City
of Tomorrrow của Peter Hall (trang 227). Đoạn tường thuật này cũng thể
hiện cái tôi to lớn của ông ta trong quá trinh quy hoạch Chandigarh.
Có thể
nói Chandigarh là nơi đã thực hiện triệt để các nguyên tác quy hoạch
của Le Corbusier trong La Ville
contemporaine và La Ville radieuse.
Cũng
có thể nói rằng bản quy hoạch này đã chuyển từ công tác quy hoạch
thành công tác thiết kế thành phố (design city, xin đừng nhầm với
thiết kế đô thị urban design) theo “ý tưởng” của Kiến trúc sư Bậc
thầy: chuyển toàn bộ hoạt động quy hoạch sang những vấn đề như yếu
tố thị giác, thẩm mỹ, tính biểu tượng. Ở đây cũng cần phải nhấn
mạnh việc Le Corbusier đã không đếm xỉa đến những vấn đề của người
dân Ấn Độ trong khi quy hoạch thành phố.
Môt số
đặc điểm của quy hoạch Chandigarh là:
-
Phân
loại giao thông theo tầng bậc
-
Tạo
mối quan hệ giữa đường phố và công trình theo kiểu Châu Âu (khoảng
lùi quá lớn) mà hoàn toàn bỏ qua các yếu tố khi hậu (nóng bức,
cần nhiều bóng râm)
-
Chia
rẽ các khu vực theo thu nhập.
-
Cuối
cùng “thiêt kế” này hoàn toàn bỏ qua tất cả các đặc điểm truyền
thống của Ấn Độ, từ kiến trúc đến phong tục tập quán và lối sống.
Đến Brasilia
Louis Costa
thắng trong một cuộc thi đáng ngờ (Oscar Nieymer trong ban giám khảo,
mà Oscar Nieymer và Costa đều là bạn) khi ông ta trinh bày năm bản vẽ
khô giấy trung bình phác bằng tay. Hoàn toàn không có dự báo dân số,
không có phân tích kinh tế, không có kế hoạch sử dụng đất, cũng không
có mô hình.
Tương
tự như Chandigarh, Brasilia được thiết kế bởi kiến trúc sư hơn là bởi
những nhà quy hoạch. Một vài đặc điểm của “thiết kế” thành phố này
là:
-
Mang
vẻ phô trương, mô phỏng hình máy bay hay con chim (who cares?). Thiết kế
với các siêu block được mắc vào một hệ thống giao thông theo định
hướng dành cho ô tô cá nhân
-
Mong
muốn thay thế chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa tập thể (collectivism) nơi
mà người lao công có thể sống gần các vị đại sứ và bộ trưởng. Cái
vỏ của thành phố thể hiện và tổ chức trật tự xã hội mới. Một
mong muốn mang nhiều màu sắc không tưởng

- Cả thành phố không thể hiện một liên hệ gì với lịch sử hay hoàn cảnh địa phương. Đó là một thành phố được xây dựng từ một nơi hoàn toàn trống (clean slate)
-
Xây
dựng thành phô bằng bất cứ giá nào. Không một ai biết giá đích thực
là bao nhiêu.
Mặc dù
bị cấm cản làm mọi cách để ngăn chặn nhưng Taguantinga- một thành
phố tự phát thứ hai vốn là nơi ở của những người công nhân lên xây
dựng Brasilia đã hình thành và phát triển (một favelas theo tiếng Bồ Đào Nha).
Mặc dù
cho ý tưởng về chủ nghĩa tập thể có mạnh thế nào trong quy hoạch
Brasilia, thì sự phần chi giàu nghèo vẫn xuất hiện ở một đất nước
mà người giàu và người nghèo đã luôn luôn bị chia ra sống ở những
vùng khác nhau.
Ảnh hưởng của Le Corbusier ở
Anh và Mỹ
Anh
Sau
chiến tranh thế giới thứ hai, nước Anh phải đối mặt với vấn nạn
thiếu nhà ở trầm trọng. Các nỗ lực tái thiết thường bị ảnh hưởng
bởi trao lưu Hiện đại trong kiến trúc, rõ nhất là ảnh hưởng của CIAM
mà hiện thân là Le Corbusier. Tuy vậy các nỗ lực tái xây dựng nhà ở
tạo nên một sự hỗn hợp giữa nhà ở riêng lẻ và căn hộ cao tầng.
Giai
đoạn này, ảnh hưởng của Corbusier khá rõ. Frederic Osborn viết “những
người trẻ dưới ảnh hưởng của ông ta [Le Corbusier] hoàn toàn vô cảm
trước các suy xét kinh tế và nhân văn” (tr. 237, City of Tomorrow). Chẳng
hạn ở Alton West, hạt Roehampton vào năm 1950 chính là một bản sao của
La Ville Radieuse với 384 khôi nhà cao
tầng giống hệt nhau. Cái mà người dân ở đây đều nhận thấy là sự
thiếu tiện nghi, thiếu môi trường sống thân thiện, thiếu cảm giác
cộng đông, thiếu tất cả mọi thứ, cái có duy nhất là bốn bức tường
và mái nhà.
Theo
Hiệp hội Kiến trúc sư (Anh) thì những tòa nhà cao tầng là hiện thân
cho đất nước đang trở mình từ lạc hậu thành một nước đi đầu [trong
kiến trúc]. Nhưng các hậu quả xã hội của nhà cao tầng là to lớn,
theo lời kể của một người thuê nha, thì khoảng chừng mười năm đầu
mọi việc đều ok, mọi người ai cũng tốt, ai cũng giữ gìn để khu nhà
không bị một tì vết. Nhưng mọi chuyện trở nên xấu đi khi những người
quản lý mang đến một số người thuê nhà bất hảo, với mong muốn “họ
được cải tạo” [nhờ sống với những người tốt!] nhưng sự thê ngược
lại “họ đã kéo chúng tôi xuống”. Điều này thể
hiện đối với chung cư cao tần thì vấn đê quản lý là quan trọng nhất.
Còn
theo Kenneth Campbell thì những thất bại trong chung cư cao tầng là vì
1) thang máy quá ít và quá chậm; 2) các hộ ở có quá nhiều trẻ em;
3) Quản lý kém.
Peter
Hall cho rằng vấn đề thực sự của chung cư cao tầng chính là thất bại
của một kiểu thiết kế ép từ trên xuống (top-down), không cần biết
đến ý muốn của người ở, không cần biết đến lối sống của họ.
Theo thiển
ý của người viết, dù có chấp nhận hay không chấp nhận chung cư cao
tầng, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng những thất bại được ghi
trong lịch sử quy hoạch của nhà cao tầng chỉ càng nêu ra vấn đề là
nhà cao tầng không phải là cấu trúc dễ phục hổi (a non-resilient
structure), nó là một cấu trúc dễ bị tổn thương. Khi so sánh thuộc
tính dễ phục hồi (resilient) của nhà cao tầng với các nhà thấp tầng
hoặc nhà ở truyền thống ta càng thấy rõ sự đối nghịch này.
Nước Mỹ
Cấu trúc
tài chính cho nhà chung cư (public housing) ở Mỹ có khác biệt so với
nước Anh, trong đó chính quyền liên bang trả tiền mua đất và tiền xây
dựng. Nhưng tiền bảo trì và vận hành công trình được chi trả bởi
tiền thuê nhà. Tuy nhiên sau những năm 1940 thì điều kiện này được dỡ
bỏ, và các gia đình hưởng trợ cấp có thể tham gia vào chương trình
nhà ở xã hội.
Vấn đề
Giải tỏa đô thị (Urban Renewal) ở Mỹ có thể coi bắt đầu từ đạo luật
Nhà ở năm 1949 và sau đó được tu chính theo Đạo luật Nhà ở năm 1954,
tuy nhiên có thể lần theo xuất xứ xa xưa của đạo luật này vào dựa
vào bản báo cáo năm 1937 của Ủy ban Đô thị thuộc Ban Quy hoạch Tài
Nguyên Tự nhiên. Báo cáo này đã nhẫn mạnh tới sự suy thoái của đô
thị gây nên bởi đât bỏ hoang trong thành phố.
Như vậy
theo Đạo luật năm 1949 thì chính quyền có thể giải tỏa các khu ổ
chuột (slum), sau đó mời gọi các nhà đầu tư bất động sản cộng thêm
trợ giá của chính phủ.
Mọi sự
diễn tiến khá thuận lợi với liên minh của chính quyền và nhà đầu
tư. Tuy nhiên đên khoảng những năm 1950, 1960 hoạt động này đã gặp
những phản đối từ các liên minh chông-giải tỏa.
Một
trong những gương mặt điển hình của giải đoạn này là Robert Moses,
được mệnh danh là “người xây dựng vĩ đại”, ông ta đã xây dựng công
viên, xa lộ, cầu, và sau này trong giai đoạn “Giải tỏa Đô thị” là nhà
chung cư. Moses là người tin tưởng vững chắc vào mô hình quy hoạch theo
kiểu từ trên xuống (top-down planning) nhưng theo đúng tinh thần của
người phục vụ công (public-spirited civil servant), nhưng đồng thời ông ta
cũng là người nắm được khâu quan trong nhất của hoạt đông phát triển
đô thi: xây dựng các mối liên hệ chính trị. Đã có lúc Moses giải tỏa
tới 100.000 người có thu nhập thấp mà phần lớn là người da đen và
gốc Nam Mỹ (ông ta gọi là “Negro removeal”), bằng tầng lớp trung lưu.
Tuy
nhiên khi đụng đến làng Tây Greenwich là Moses đã đụng đến Jane Jacobs
tác giả của “Cái chết và sự sống của các Đại đô thị Mỹ” (The Death
and Life of Great American Cities). Kết cục là sự thất bại của Moses
với việc xa lộ mà ông ta dự kiến không được xây dựng. Sau đó với sự
ra đời của quyển sách của Robert Caro, tố cáo các thủ đoạn mà Moses
đã sử dụng trong 50 “cầm quyền” của mình, Moses bị buộc rời khỏi
chức vụ- không còn là Bậc thầy Xây dựng nữa.
Một số
vấn đề nghiêm trọng của hoạt động “giải tỏa ổ chuột” những năm 1960
là có khi phá hủy nhà hiện hữu tới 4 lần hơn việc xây mới, bỏ hoang
đất đô thị (thường một dự án phải mất 12 năm mới hoàn thành), sau
khi thực hiện thì có tới 40% đât không dành cho nhà ở, nếu có thì
lại là các căn hộ cao cấp theo giá thị trường.
Jane
Jacobs cho rằng vấn đề của đô thị
không phải là mật độ cao hay không, bà đề xuất có thể xây tới 100 căn
nhà/căn hộ cho từ 200 đến 300 người một mẫu anh (khoảng 0.45 hecta),
đó cũng chính là mật độ của New York. Vấn đề thành công hay thất
bại của đô thị chính là ở chỗ phải có hỗn hợp chức năng, hỗn hợp
sử dụng đất, đảm bảo rằng mọi người sinh sống, đi lại khu đô thị đó
với các mục đích khác nhau, theo các thời gian biểu khác nhau và
cuối cùng phải sử dụng chung các công trình (Christopher Alexander cũng
đề xuất tương tự trong “Thành phố không phải là cây phả hệ”- xem thêm
trong blog này).
Pruitt-Igoe đặt dấu chấm hết cho các chương trình chung cư cao tầng ở Mỹ. Khởi đầu như một thiết kế được ca ngợi, nhưng đến năm 1970 chỉ có 65 phần trăm căn hộ được thuê. Vẻ đổ nát, xập xệ hiện diện khắp nơi trong số 34 thang máy thì 28 không hoạt động được. Vẽ bậy, tiểu tiện, rác, chuột lan tràn. Năm 1972 chính quyền Saint Louis cho nổ mìn khu chung cư này.
Theo
Oscar Newman thì vấn đề là các kiến trúc sư không bao giờ chịu học
hỏi xem các công trình hiện tồn tốt xấu ra sao, sau đó thì cải thiện
thiết kế (một kiểu học từ phản hỏi –feedback trong adaptive design nếu
bạn đọc có theo dõi các post trước của tôi). Đó là hệ quả của hai lối tư duy trong
kiến trúc. Một là theo các phương pháp xã hội (social methogologist)
hai là theo phương pháp siêu hình (style methaphisicians), khỏi cần nói
các kiến trúc sư hiện đại thời kỳ này theo phương pháp thứ hai. Nhưng
thiết kế không phải là vấn đề duy nhất, mà vấn đề còn ở chỗ thu
nhập và quản lý. Vậy vấn đề cũng không khác ở Anh quốc.
Để kết
thúc bài tóm lược này tôi muốn trích dẫn hai đoạn một của Peter Hall
nói về Le Corbusier và ảnh hưởng của ông ta.
“Tội lỗi
của Le Corbusier và những người theo ông ta không phải ở thiết kế của
họ, mà ở sự ngạo mạn vô lối theo đó họ áp đặt lên người khác,
những người không thể chấp nhận và cũng không bao giờ, dù chỉ là
một chút trong ý nghĩ, có thể mong là chấp nhận họ” (tr. 261, City of
Tomorrow).
Và “Thật
không may, những ý tưởng [của Le Corbusier] được kiểm nghiệm trên con
người như với các con lợn guinea, và sau đó đẻ lại các bài học đau
xót cho các thế hệ quy hoạch tương lại” (tr. 261, City of Tomorrow).
1 nhận xét:
Rất hay Thầy à,tiếp tục đăng thêm những bài khác Thầy nhé!
Đăng nhận xét