Một
đoạn trích
cuối cuốn “The timeless way of building” của Christopher Alexander
Mở
chương cuối cuốn “The timeless way” thấy hay quá nên dịch để mọi người
cùng thưởng thức. Mặc dù có bao nhiều việc phải làm vậy mà cũng
không cưỡng nổi cám dỗ dịch đoạn này.
Chương
27
PHẦN
TINH TÚY CỦA PHƯƠNG PHÁP
Thực
ra đặc tính vượt thời gian, cuối cùng thì, chẳng liên quan gì đến
các loại ngôn ngữ. Ngôn ngữ và các quá trình bắt nguồn từ nó, chỉ
là sự phóng chiếu trật tự căn bản nằm bên trong chúng ta. Chúng không
dạy chúng ta, chúng chỉ nhắc chúng ta những gì chúng ta đã biết, và
những gì mà chúng ta sẽ phát hiện hết lần này đến lần khác, khi
chúng ta buông bỏ ý niệm và quan điểm, và làm chính những gì xuất
hiện bên trong chúng ta.
Từ
những gì mà độc giả đã đọc được, nó có vẻ rằng mặc dù sự sống
bên trong công trình, và đặc điểm vượt thời gian chúng có được khi
chúng sống động, có thể được tạo ra đơn giản bằng cách sử dụng ngôn
ngữ kiểu mẫu. Nếu con người có một ngôn ngữ kiểu mẫu sống động, có
vẻ như sẽ làm cho nó sống động. Có vẻ như sự sông của thành phố có thể được tạo
ra đơn giản bằng cách sử dụng các ngôn ngữ này.
Tuy
nhiên chúng ta không biết rằng, có phải đơn giản như vậy không? Có
phải bất kỳ quá trình nào đều tạo nên phẩm chất không thể gọi tên
khuấy động đến tinh túy của tự nhiên? Có thể có một thứ lý thuyết
mạnh mẽ đến như vậy?
Những
nghi ngờ này là chính xác. Có một cái tinh hoa là trung tâm của
phương pháp xây dựng vượt thời gian, một lối sư phạm chinh mà tôi chưa
mô tả cho đến tận bây giờ.
Bản chất của cốt lõi này chính là sự kiện
rằng chúng ta chỉ tạo nên môt công trình sống động khi chúng ta trở
thành vô ngã (egoless).
Thử hình dung, ví dụ những viên ngói màu xanh
lục, ngọn núi trắng xóa, tổ chi dưới hành lang vòm cuốn, sơn màu
vàng, đồ mộc vừa mới đóng xong.
Trang trí xung quanh mái, màu hoa đỏ trong bụi
cây dẫn đến lối nhà, khung cửa sổ lộng lẫy, nơi đó có ghế ngồi với
gối kê êm ái, các chậu hoa nơi hạt giống đang nảy mầm, và cây chổi
treo trên tường...đỉnh tháp nhọn chĩa trên bầu trời, vòm cuốn của
công trình hứng lấy ảnh sáng mặt trời tận sâu vào bên trong các
alcoves (phần thụt ra khỏi nội thất phòng)xung quanh công trình.
Vẻ đẹp của nơi này, phẩm chất mà nó chạm
đến chúng ta, cái tạo vật khiến chúng sống động, là, trên tất cả
chính là cái sự không chủ tâm, là cái vô tư lự của nó.
Cái
vô tư lự này sẽ tới chỉ khi người ta thực sự thành tâm quên đi bản
thân mình.
Nó sẽ đến mà không cần phải nói rằng tấm
thép lớn và kính, cấu trúc bê tông của các kiến trúc sư nổi tiếng
không hề có phầm chất này.
Nó sẽ đến mà không cần phải nói rằng những
ngôi nhà sản xuất hàng loạt, được xây dựng bởi các nhà phát triển
lớn, không có phẩm chất này.
Nhưng sự thật cũng là những kiến trúc sư “tự
nhiên” như Frank Lloyd Wright và Alvar Aalto, cũng chưa đạt được tới phẩm
chất này.
Và sự thật cũng là thứ kiến trúc “sôi nổi”
thoải mái theo kiểu hippy, với mặt đứng bất quy tắc bằng gỗ tùng,
và nội thất kiểu đồng quê theo mốt cũ cũng không đạt được tới phẩm
chất này.
Những nơi như vậy không phải là vô tư lự, và
không thể đạt được phẩm chất không thể gọi tên, bởi vì chúng được
tạo nên với một kiểu nhìn hướng ra bên ngoài. Người ta làm ra nó theo
cách họ làm bởi vì họ cố chuyền tải một thứ gì đó, một hình ảnh
nào đó đến thế giới bên ngoài. Ngay cả khi họ làm cho chúng có vẻ
tự nhiên, ngay cả tính chất tự nhiên được tính đến, thì cuối cùng chỉ
là cách tạo dáng mà thôi.
Trong
trường hợp bạn nghĩ rằng tôi đơn giản chỉ từ bỏ thời đại mình đang
sống, và tìm kiếm trong quá khứ, tôi nên kể cho bạn về hai nơi chốn
mà tôi biết chúng hoàn toàn thuộc về thế kỷ 20, nhưng vẫn có được
mức độ vô tư lự.
Nơi đầu tiên là quầy bán trái cây, trên một
con đường quê, không xa nơi tôi ở. Đó chỉ là một cái lán đơn sơ, được
tạo nên bởi mái tôn và ván ép- nó không có mục đich gì khác ngoài
việc bảo vệ trái cây khỏi mưa gió.
Nơi thứ hai là trên sàn thuyền đánh cá, ở
biển Bắc. Nó chỉ là một chiếc thuyền có động cơ diesel đơn giản, có
lẽ dài khoảng 12 mét. Ba anh em người Đan Mạch đang câu cá trên bến thuyền
đó. Ở một góc luôn luôn có một đống lớn các chai bia rỗng, có
lẽ cao tầm 0,9 đến 1,2 mét; họ đã uống liên tục khi ra biển, và cả khi
họ đã cập bến.
Cả hai nơi chốn này có rất ít tính chất vô
tư và vô ngã cần thiết cho môt phẩm chất mà không cần tên gọi. Và
tại sao? Bởi vì những người tạo nên chúng đơn giản chỉ không thèm
quan tâm tới việc người khác nghĩ gì về họ. Tôi không muốn nói rằng
họ ngang bướng: những người ngang bướng không quan tâm chuyện người
khác nghĩ gì về họ, họ lại vẫn quan tâm ít nhất đủ để tỏ ra ngang
bướng- vẫn là điệu bộ. Nhưng trong cả hai trường hợp, quầy bán trái
cây và cái sàn của thuyền đánh cá, người ta không quan tâm đến việc
những người khác nghĩ gì, và họ cũng không quan tâm về chuyện là họ
không quan tâm. Điều đó chẳng có nghĩa gì với họ. Họ chỉ làm chính
những gì mà họ phải làm để quan tâm đến hoàn cảnh của họ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét