Frederick
Turner, giáo sư Đại học Texas tại Dallas, tác giả của một loạt tác phẩm bàn về
một sự Phục Hưng mới của văn hóa, một trường phái Cấp tiến Trung dung mới (Radical
Center) đã tấn cộng mãnh liệt vào quan niệm tương đối về thẩm mỹ vào tính tự
mãn (và phá sản) của các lý thuyết hậu hiện đại. Ông cho rằng “Chúng ta có một
tự nhiên; tự nhiên đó là văn hóa, nền văn hóa đó là quan niệm cổ điển. Bản chất
nghệ thuật và văn học được khắc sâu trong các hệ thần kinh trung ương của chúng
ta” trong các thuộc tính mang tính đa dạng giống như sự yêu mến có tính phổ
quát tới niêm luật thơ và tính tự sự. Rằng khoa học tự nhiên phát hiện ra rằng
thế giới không phải là hỗn độn cũng chẳng phải được định trước (deterministic)
mà là phi-tuyến tính (non-linear), có tính phản quy, thường lặp (iterative), tự
tổ chức trật tự (self-ordering), rối loạn (turbulent), mang tính mở
(open-ended), không thể đoán định và trên tất cả tự do và tự sáng tạo. Hai bài nhận định dưới đây của Paul Trout và
Gregory Benford sẽ giúp bạn đọc hiểu một cách ngắn những đóng góp của ông cho “một
nền văn hóa của hy vọng”. Quan niệm về vẻ đẹp và thế giới- vốn gắn bó mật thiết
đến hoạt động kiến trúc và quy hoạch - NHN
Nhận xét của Paul
Trout –giáo sư Đại học Montana State
Frederic Turner một học giả, nhà tiểu
thuyết, nhà thơ và là một người toàn tài (interdisceiplinary polymath). Trong Về nền văn hóa của hy vọng, ông cho rằng
các ngành như khoa học hành vi, sinh học tiến hóa, vật lý, toán, nhân loại học
âm nhạc (ethnomusicology), sinh học xã hội (sociobiology), giải phẫu thần kinh
và mỹ học sinh học (biaesthetics hay kalogenetics) đang bắt đầu những phát kiến,
những lý thuyết ngoạn mục. Chúng thách thức những giả định tai hại của chủ
nghĩa hậu hiện đại và những lý luận cổ võ cho sự tuyệt vọng. Chúng cung cấp nền
tảng cho sự Phục Hưng tri thức thứ hai, hứa hẹn sẽ định hình lại cuộc sống nhân
loại.
Turner khẳng định rằng thái độ hoài
nghi, nhạo báng và tuyệt vọng đang phổ biến trong nền văn hóa của chúng ta là kết
quả của những sự phân đôi lầm lạc và tai hại (false dichotomies) giữa trật tự-phi
trật tự, tự nhiên-văn hóa, con người- động vật, v.v... những sự chia đôi này
băt nguồn từ thế kỷ 19 và còn được cả phe Tả và Hữu bám lấy. Ví dụ cả hai đều
xác định một cách rất hạn hẹp vai trò của nghệ thuật trong mối liên quan đến trật
tự. Với cánh Hữu khăng khăng rằng nghệ thuật phải bảo toàn trật tự và cánh Tả cho rằng cần phải
lật đổ nó. Turner khẳng định những sự chia đôi mục ruỗng như vậy là các giả định
sai lầm (“faulty assumptions”), là độc hại, chúng chỉ xúi giục hận thù, cuồng bạo,
thói đố kỵ, nỗi sợ hãi và tuyệt vọng.
Có thể tìm được con đường tự do giải
thoát khỏi các quan điểm nhị nguyên như vậy- và đó chính là nền tảng mới cho hy
vọng. Turner khẳng định trong những phát hiện ngoạn mục gần dây từ các ngành
khoa học tự nhiên và nhân văn, từ công nghệ và nghiên cứu môi trường. Chẳng hạn
khoa học tự nhiên phát hiện ra rằng thế giới không phải là hỗn độn cũng chẳng
phải được định trước (deterministic) mà là phi-tuyến tính (non-linear), có tính
phản quy, thường lặp (iterative), tự tổ chức trật tự (self-ordering), rối loạn
(turbulent), mang tính mở (open-ended), không thể đoán định và trên tất cả tự
do và tự sáng tạo. Từ quan điểm mới này, thế giới được coi như tiến hóa thành một
sự hòa trộn giàu có hơn của những phức hợp vật chất và tinh thần.
Turner giải thích đóng góp cho trào
lưu “cấp tiến trung dung” (radical center) mới nổi này là sự tiếp tục tiến hóa
tự nhiên của vũ trụ trong một cách mới mẻ, linh động hơn và sâu sắc hơn thông
qua sự hợp tác của con người với tự nhiên, thông qua việc thực hiên các chủ định
có lương tri và tổ chức sáng tạo để hỗ tự cho sự đa dạng và chọn lọc tự nhiên.
Turner gọi đó là khái niệm “một niềm hy vọng cách mạng”
Nghệ thuật, mà đặc biệt là nghệ thuật
tự sự đóng một vai trò thiết yếu trong sự nổi lên của nền văn hóa hy vọng này.
Theo quan điểm phổ biến hiện tại nghệ thuật chỉ là thứ giải trí hoặc là sự thực
hành quyền lực chính trị. Nhưng các phát kiến gần đây trong nhân loại học, nhân
học âm nhạc, và nghiên cứu não bộ đã bác bỏ quan điểm rằng vẻ đẹp mang tính chủ
quan hoặc bị giới hạn bởi văn hóa. Những nghiên cứu liên văn hóa đã phát hiện
ra rằng có sự ưa thích thẩm mỹ liên nhân loại và cũng như tồn tại các hình thức
nghệ thuật và thể loại nghệ thuật phổ quát (Turner gọi đó là “các hấp dẫn bởi hệ thần kinh” (“neurocharms”).
Ông tiếp tục khẳng định rằng quá trình tiến hóa đã trang bị cho chúng ta một cấu
trúc sinh học thần kinh sao cho nó tưởng thưởng chúng ta vì đã ghi nhận và tạo
ra chúng (tức là các “neurocharms”). Nói tóm lại khả năng tạo ra và trân trọng
vẻ đẹp đã được ghi vào trong bộ não (hardwired). Điều đó cho thấy các thể loại
nghệ thuật cổ điển như tự sự được “làm ra trong quá trình kiến tạo chúng ta như
con người” và không thể bị bỏ qua bởi một nền văn hóa mà không gây nên các hệ
quả tiêu cực. Turner gọi quan điểm này là “chủ nghĩa cổ điển tự nhiên”.
Khả năng của con người tạo nên các
tự sự thú vị, thỏa mãn bộ não đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tiến
hóa văn hóa/sinh học. Ở đây nghệ thuật và hy
vọng hòa quyện vào nhau. Câu chuyện và thần thoại mà những người đầu tiên kể
cho nhau nghe phóng chiếu các sự kiện và kết quả mang tính kỳ vọng- đó là việc
bao gồm một “sự ước lượng tưởng tượng khả năng, một bước nhảy về tương lai”. Chẳng
hạn một câu chuyện điển hình có thể kể về thành công ở tương lai của một cuộc
săn. Kiểu khẳng định này sẽ kích thích và cũng cố hệ thống tưởng thưởng có chức
năng phản hồi của bộ não và tự bản thân nó là sự tưởng thưởng cho việc phóng
chiếu các hành vi mới nổi (emergent behavior), để rồi dẫn đến sự tồn tại và thịnh
vượng của cộng đồng.
Hy vọng phải thúc dục người đã nỗ lực
nếu họ thành công, nếu không có nó các nhiệm vụ lâu dài, khó khăn không thể được
thực hiện với tự tin và nhiệt tình cần thiết. Vì lý do đó mà người kể chuyện có
thể “chế” nên các hoàn cảnh hy vọng để đóng góp trực tiếp cho quá trình tiến
hóa của cộng đồng. Người ta có thể nói rằng nghệ thuật bảo tồn và thay đổi xã hội
thông qua việc xử lý hy vọng
Về
nên văn hóa của hy vọng tràn đây những sự phân biệt tinh tế, phê bình mãnh
liệt, phát hiện các tương tự bất ngờ và suy đoán mạnh bạo. Quyển sách bao quát
một địa hạt tri thức mênh mông, nó khảo sát các chủ đề như vũ trụ luận, sự truyền
dẫn tín hiệu thần kinh, thi ca sinh thái (ecopoetry), vòng xoắn Fibonacci, thảm
Sierpinsky, lý thuyết tập hợp Mandelbrot, thần học tự nhiên, Boolean logic. Hầu
như mỗi trang sách đều chứa đựng những ý tưởng đầy hứng thú và tỏa sáng.
Tuy nhiên thỉnh thoảng tôi không thể
theo nổi các phán đoán của Turner. Chẳng hạn khi ông nói về các vũ trụ song
song và khẳng định rằng tương lai có thể liên lạc và ảnh hưởng tới quá khứ. Tôi
cũng không thể hiểu được tại sao “niềm hy vọng tiến hóa” lại được cài sẵn trong
vũ trụ.
Nhận xét của Gregory
Benford- giáo sư Đại học California tại Irvine
Frederick Turner đã đề xuất một cuộc
cách mạng thầm lặng, ông cho rằng chúng ta không phải chịu đựng “chủ nghĩa hậu
hiện đại”- hoàng hôn của văn hóa nữa và đang sẵn sàng bước vào một thời đại văn
hóa mới, rất cổ điển và được thông tin bởi khoa học hiện đại: trào lưu “Cấp tiến
Trung dung”.
“Trào lưu Cấp tiến Trung dung coi
xu hướng nghệ thuật tiền phong (avant-garde) và xu hướng bảo thủ cùng chia sẻ
các giả định siêu triết học chung, chúng đều kế thừa từ thế kỷ 19”. Cánh Tả
thích thú với entropy, trong khi cánh Hữu nhìn thấy sự cứu rỗi của chúng ta từ
những tài nguyên ngày càng thu hẹp trong bàn tay vô hình của kinh tế thị trường.
Sự phân chia đó dẫn đến “sự khủng hoảng tuyệt vọng trong tính nguyên bản, thất
bại trong việc tìm kiếm khán thính giả, và sự tách biệt khỏi dòng chảy tri thức
hiện tại trong khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn, tôn giáo, công nghệ, và
phong trào hướng về môi trường” của nghệ thuật. Đối với cánh Tả “chúng ta chỉ tự
do nếu chúng ta có thể trình diễn một hành động vu vơ nào đó mà không cần phải
có ý nghĩa hay có lý do”
Trong khi Turner nhìn thấy kinh tế
thị trường tư bản hiện tại của chúng ta như “một xấp xỉ gần nhất” tới “sản phẩn
có giá trị của tự nhiên” [ý nói kinh tế thị tường là cái có thể chấp nhận được
nhất trong các hình thái kinh tế xã hội mà nhân loại đã trải qua – ND], ông mô
tả một cách khéo léo làm thế nào mà cánh Hữu đã dựng nên các chiến lũy ngăn
cách quá khứ với hiện tại. Nó “tin tưởng ở cái xinh xắn, nó từ chối sự hổ thẹn
bằng cách trục xuất ra ngoài tất cả những gì là không tiện lợi và mùi vị của cuộc
sống…Tình trạng cuối cùng của nó là sự nhạt nhẽo tột cùng”. Từ chối sự hổ thẹn
có nghĩa là bỏ qua bản chất động vật của chúng ta, mà cánh Hữu thường đổ cho “tính
xã hội, chủng tộc và giới của Tha nhân”
Quan điểm Câp tiến Trung dung của
ông bao gồm sự tiến hóa- trong sinh học và trong các quá trình vật lý – như là
người tạo ra trật tự trong các hình thức mới mẻ. “Lý thuyết hỗn độn (chaos
theory) cho chúng ta biết rằng các ‘nguồn hấp dẫn’ (attractors) có thể tiềm ẩn
dưới vẻ ngoài hỗn độn, và các hệ thống có trật tự cao có thể tạo nên những thuộc
tính mới nổi không thể tiên đoán được thông qua sự thường lặp và phản hồi.
Theo Turner, nước Mỹ như là một nền
văn hóa dẫn đầu phương Tây phải “tìm được kỹ năng để lắng nghe và hấp thu các
giá trị văn hóa khác”. Các giá trị cổ điển và thiết yếu đều xuất phát từ “các tổ
chức mang tính sinh học thần kinh sâu sắc dựa trên ngữ pháp, giống như ngôn ngữ,
và là chung cho tất cả các nền văn hóa.” Ông thúc dục quay trở lại với những
hình thức và thể loại nghệ thuật phổ quát chân chính vốn cho chúng ta sự niêm
luật thơ, khóa nhạc và tỷ lệ, các phương pháp hình ảnh thị giác và motif, các cấu
trúc thần thoại. Quan điểm cấp tiến trung dung của ông là sự “cự tuyệt xu hướng
cho con người là trung tâm của phe Hữu, nhưng cũng là sự cự tuyệt với tư duy
cho phương Tây là ma quỷ của phe Tả”
Tự nhiên là đậm đặc và phi tuyến
chính là nền tảng của khoa học chúng ta. “Chỉ một bộ não đã sở hữu những tình
trạng tiềm tàng nhiều hơn tất cả các hạt trong vũ trụ”. Nhiều sự kiện diễn ra
trong một năm trong một cánh rừng hơn là những gì xảy ra trên sao Hỏa trong
hàng triệu thế kỷ. Vì thế ý thức hệ dựa trên một thế giới quan “lốm đốm li ti không
có nhiều ý nghĩa” (chẳng hạn quan niệm cho rằng chúng ta có thể phải đầu hàng
và từ bỏ toàn bộ nên văn minh nhân loại để hiến trọn bản thân cho sự kích thích
đến hết mức có thể trước khi chúng ta chết) được lập trên một tiên đề sai lầm.
Ông kết án quan điểm nữ quyền cho rằng
“các lý thuyết khéo léo về âm mưu trong đó các loại mặt nạ gia trưởng tự cho là
có đủ cơ sở luật pháp và khoa học”. Điều này thật mỉa mai dẫn đến một thứ quan
điểm nữ quyền nhầm lẫn xu hướng bảo thủ của các thiết chế với cái xảo quyệt có
vẻ hợp lý của giới cầm quyền. Ông cũng chỉ ra tính hoang tưởng của phong trào nữ
quyền được thừa hưởng từ chủ nghĩa Marx, về tính tiền sử hoang tưởng của một thứ mẫu hệ tốt đẹp, bị lật đổ bởi bọn
Đàn ông xấu xa trước bánh xe lịch sử. Sai lầm căn bản nhất của phong trào nữ
quyền là trong sự bối rối của nó với việc đàn ông và đàn bà có khác nhau hay
không và khác nhau như thế nào.
Khoa học nghiên cứu về hành vi các loại
linh trưởng và sinh học xã hội có thể giúp trả lời câu hỏi này, nhưng chỉ một số
ít các nhà nữ quyền nhìn thấy ở đây một địa hạt có giá trị, họ thà đánh hơi nó
từ xa, qùy lạy niệm câu thần chú “cấu trúc xã hội” (social construction- tức là
cho rằng tất cả mọi hoạt động trong xã hội, nghệ thuật và khoa học đều được cấu
trúc xã hội- cấu trúc để phục vụ một thiểu số tinh hoa – ND)- một thứ quan điểm
cho rằng không có sự thật đang diễn hành trên thế giới, chỉ có cảm giác của
chúng ta mà thôi!
Hầu hết các quan niệm của Turner đều
bắt nguồn từ sinh học như mô hình có tính bước ngoạt về trật tự phi thường
(emergent order). “Chúng ta có một tự nhiên; tự nhiên đó là văn hóa, nền văn
hóa đó là quan niệm cổ điển. Bản chất nghệ thuật và văn học được khắc sâu trong
các hệ thần kinh trung ương của chúng ta” trong các thuộc tính mang tính đa dạng
giống như sự yêu mến có tính phổ quát tới niêm luật thơ và tính tự sự.
Hầu hết các bằng chứng khoa học từ
khoa học thần kinh, nghiên cứu các hiện tượng song sinh, sinh học xã hội, nhân
loại học vật lý và di truyền học đều ngầm định mạnh mẽ rằng quan hệ giữa tự
nhiên/nuôi dưỡi khoảng 70/30 hoặc thậm chí 80/20. Điều hoang tưởng chính yếu của
tinh thần hiện đại là chúng ta được sinh ra như là những tờ giấy trắng chờ được
viết lên bởi văn hóa - sai lầm!
Âm nhạc tiền phong thường đi chệch
hướng bởi vì nó thất bại trong việc sử dụng sơ đồ được cài đặt trong bộ não
chúng ta một cách hiệu quả. Tương tụ như vậy yêu cầu của mỹ học hậu hiện đại cho
rằng chúng ta cần phải đối xử với mỗi thành phần thị giác như các biểu tượng tạo
nghĩa, cần phải tránh tính phả hệ, cần phải bỏ qua công chúng. Một loài sinh vật
sử dụng chiến lược như vậy khó có thể ném được một hòn đá, né được một ngọn
thương hay tóm lấy trái cây đang rụng. “Hệ thống cấu trúc thế giới-của vỏ não-vô
song của chúng ta dẫn tới một tập hợp các giá trị cổ điển, theo đó ông dự đoán
chúng ta sẽ sớm trở lại.
Cuối cùng, nghệ thuật hậu hiện đại
là bẩn thỉu, ghê tởm không phải bởi vì nó chướng tai gai mắt mà bởi vì nó đáng
chán ngán. “Một bọn phá sản của những thứ rẻ tiền dễ bị mua chuộc giờ đây đang
gây bệnh truyền nhiễm trong nghệ thuật” dèm pha quần chúng là vị lợi, thất bại
trong việc ghi nhận các ý tưởng của bản thân nó, chủ yếu là quan niệm cho rằng
thực tại là một cấu trúc xã hội.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét