Nguyễn Hồng Ngọc
Vẻ
đẹp nằm trong con mắt kẻ si tình?
Tin được hay không, những
người nghiêm túc nhất hành tinh khẳng định điều ngược lại. Vẻ đẹp là khách
quan- vẻ đẹp không nằm trong con mắt kẻ si tình[i].
Trường
phái này trong khoa học xã hội và nhân văn được Frederick Turner gọi bằng Trào
lưu Cấp tiến trung dung (Radical center paradigm). Trào lưu này bao quát một
địa hạt nghiên cứu rộng lớn bao gồm sinh học tiến hóa, sinh học thần kinh, nhân
loại học, vật lý, triết học chính trị và phê bình văn học (Talen
và Ellis 2002). Trào lưu Cấp tiến trung dung cho rằng
có sự khủng hoảng liên quan đến tính chất chủ quan của chủ nghĩa hậu hiện đại
và cái quan niệm vẻ đẹp như một điều gì đó mang tính chủ quan. Các tác giả Rentschler,
Berberger và Epstein (1988) nhận định rằng
“các nghiên cứu đa văn hóa chỉ ra sự nhất quán đáng ngạc nhiên trong quan điểm
thẩm mỹ”. Từ quan niệm của thuyết cấp tiến trung dung, cái đẹp là thực tại
trong tự thân nó (beauty is a reality in and of itself) và phần lớn mọi người
đều mong muốn “vẻ đẹp, ý nghĩa và sự dụng công” (Turner 1995, 20).
Chủ đề thứ
hai có liên quan đến cái đẹp là là mối quan hệ giữa trật tự và phi trật tự.
Turner và những người theo thuyết cấp tiến trung dung cho rằng sự sụp đổi của
thuyết nhị nguyên về trật tự và phi trật tự đã dẫn tới một chân trời mới trong khoa
học về các hệ phức hợp (science of complexity), đó là việc phát hiện ra các
hình thức trật tự bất ngờ, không định trước bên trong các hiện tượng mà thoạt
nhìn có vẻ là hỗn độn (Holland
2000;
Waldrop
1992).
Đây chính là hiện tượng đột khởi; theo Golstein emergence -tạm dịch là đột khởi
hoặc phi thường- là một khái niệm căn bản nhất trong khoa học về các hệ phức
hợp. Khái niệm đột khởi liên hệ tới “sự nổi lên/sự xuất hiện của các cấu trúc
mới và chặt chẽ (coherent), các kiểu mẫu và các thuộc tính trong quá trình tự
tổ chức trong hệ thống phức hợp. Các thuộc tính của đột khởi là: (1) mới mẻ một
cách cấp tiến (radical novelty) tức là các đặc điểm không thấy trước đó trong
hệ thống; (2) sự cố kết hoặc tương quan- tức là các toàn thể được tích hợp vào
nhau trong một khoảng thời gian; (3) Một “quy mô” toàn cục hoặc vĩ mô, nghĩa là
có một thuộc tính “toàn thể nào đó”; (4) nó là sản phẩm của quá trình động (nó
tiến hóa); và (5) nó “lộ ra” thức là có thể nhận thấy được. Ngoài ra để đo
lường, Goldsten đưa vào khái niệm supervenience[ii]-quan
hệ nhân quả hướng xuống dưới (downward causation).
Vì
sự đột khởi là một khái niệm căn bản nên ở đây tôi muốn giới thiệu thêm các
định nghĩa khác về nó. Theo John Holland thì sự đột khởi là thuộc tính của hệ
phức hợp. Các hệ phức hợp thường bao gồm các tác nhân và thường có các đặc điểm
sau:
-
Các tác
nhân thường tuân theo các quy luật đơn giản. Chẳng hạn mỗi con kiến chỉ có năm
phương thức giao tiếp cơ bản, bốn dựa trên cơ sở pheromone, một dựa trên tư thế,
nhưng lại tạo ra tổ kiến như một hệ phức hợp.
-
Cái toàn
thể thì lớn hơn tổng của các thành phần -“the whole is more than the sum of
their parts” – là câu nói phổ biến nhất về các hệ phức hợp. Có thể tạm hiểu là
một thuộc tính mới mẻ không dự đoán được chỉ từ việc nghiên cứu các thành phần đã
xuất hiện trên quy mô toàn cục, tương tự như novelty trong định nghĩa của
Golstein.
-
Có thể
bao gồm kiểu thức ổn định trên quy mô toàn cục trong khi các thành phần thay đổi.
Chẳng hạn cơ thể người gồm hàng tỷ tế bào, các tế bào chết đi và ra đời trong
khi cơ thể của ta vẫn là ta. Bạn có thấy có gì đó tương đồng với quan niệm của
nhà Phật. Ta cứ tưởng mọi vật là thường hằng, nhưng thật sự là vô thường, bản
thân ta cũng vô thường ngay cả trong giây phút hiện tại, ngay ở giây phút bạn đọc
những dòng này. Ngay cả Holland khi đưa ra ví dụ về thuộc tính này ông cũng sử
dụng ví dụ về từng đợt sóng vỗ vào tảng đá. Mỗi con sóng đều khác nhau, mỗi
phân tử nước đều khác nhau tại một thời điểm, nhưng kiểu thức mà sóng vỗ là
không đổi. Gợi nhớ đến các thiền sư chứ bạn!
-
Môi trường
của kiểu mẫu đột khởi xác định các thành phần của nó. Chẳng hạn quá trình chọn
lọc tự nhiên dựa vào hoàn cảnh đã tác động đến sự dị biệt của các loài.
- Hệ phức hợp thường sở hữu các mối quan hệ ràng
buộc và kiểm soát dựa trên một số lượng ‘thừa” nhờ thế nó có thể hiệu chỉnh sai
lầm. Ví dụ như các thuộc tính thừa trong bộ mã DNA tạo cơ hội hiệu chỉnh sai lầm
cục bộ trong quá trình nhân bản.
- Hành vi
của hệ thống có thể được mô tả bởi các luật vĩ mô (macrolaw) mà không cần phải
biết đến các luật lệ vi mô. Nghĩa là chúng ta không cần phải biết hành vi chi
tiết của từng cá thể khi xem xét hành vi toàn cục của hệ. Ví dụ chúng ta không
cần biết tương tác của các phân tử của các hành tinh nhưng vẫn có thể xác định
quỹ đạo của chúng chỉ dựa vào các định luật của cơ học cổ điển. Hoặc theo
Dukheim hiện tường tự sát là một hành vi toàn cục có các thuộc tính xác định
trong khi nguyên nhân tự sát của các cá nhân là vô cùng đa dạng.
- Một tập hợp nhỏ các thành phấn cấu trúc
(building blocks) bị quy định bởi các quy luật đơn giản có thể xây dựng nên một
cấu trúc vô cùng phức tạp. Có vẻ như lập
lại thuộc tính thứ nhất.
Còn với Francescotti một
nhà triết học thì sự đột khởi có các đặc điểm sau đây:
-
Tính mơi mẻ (novelty)
-
Tính không thể định trước.
-
Supervenience. Một vật là supervenience một vật
khác khi nó được tạo thành bởi vật đó nhưng không giống hệt như thứ mà nó
supervene. Chẳng hạn một quyển sách được tạo nên bởi các nguyên tử trong sách.
Nếu các nguyên tử trong quyển sách thay đổi, quyển sách sẽ thay đổi. Quyển sách
đang supervene các nguyên tử bởi vì bản thân các nguyên tử không có thuộc tính “sách”.
Tính “sách” tồn tại bởi vì có các nguyên tử nhưng không đồng nhất với nguyên tử.
Một ví dụ khác: một ngân hàng thì phụ
thuộc vào tài sản của nó, khách hàng và tiền nhưng ngân hàng không phải là những
thứ ấy. Tính “ngân hàng” bao gồm nhiều hơn tổng số khách hàng, tiền, và tòa nhà
mà nó đang sở hữu vì thế ngân hàng supervene những thứ trên.
-
Tương liên: các thành phần của hệ thống đều phụ
thuộc vào các thành phần kế cận. Trở lại với tổ kiến, nếu con kiến đi tìm mồi
mà gặp một số lượng kiến cùng tổ tha mồi đủ lớn nó sẽ quay trở về tổ vì cho rằng
lượng lương thực như thế là đủ cho tổ. Hành vi cục bộ này khi tương tác với các
thành tố lân cận cuối cùng đã nảy sinh tính toàn cục. Điều này cả Holland và
Golstein đều nói đến.
-
Ảnh hưởng nhân quả hướng xuống (downward
causal influence). Các quá trình ở quy mô thấp trong phả hệ (quy mô tầng bậc) bị
ngăn trở và bị quy định bởi sự tuân thủ luật lệ của quy mô cao hơn. Donald
Campbell là người đầu tiên xác định nguyên tắc này. Những người theo quan điểm
giản hóa luận (reductionism) cho rằng hành vi của toàn thể hoặc của một hệ thống
có thể được xác định hoàn toàn bởi hành vi của các thành phần, hoặc các hệ thứ
cấp. Nói một cách khác nếu bạn biết quy luật chỉ đạo hành vi của các thành phần,
bạn có thể tổng hợp nên quy luật xác định hành vi của cái toàn thể. Trong khi
đó quan
hệ nhân quả hướng xuống có thể coi như nghịch lại với nguyên tắc giản hóa luận
nói trên: hành vi của các thành phần (xuống dưới) được xác định bởi hành vi của
toàn thể (lên trên), vì vậy việc xác định đi từ trên xuống dưới thay vì từ dưới
lên trên.
-
Cái toàn thể thì lớn hơn tổng của các thành phần.
Từ khái niệm này các nhà khoa học đi tới nghiên cứu một
hệ thống phức hợp tự thích ứng (complex adaptive system) là hệ thống có những
thành phần liên hệ tương hỗ, trong đó thiếu vắng đi sự kiểm soát từ-trên-xuống (top-down
control) và được hướng dẫn bởi các quy luật đơn giản để tạo ra các hành vi hợp
tác phức hợp theo những cách không lường trước được (Holland
1997; 2000; Mitchell
2009; Lansing 2003).
Vậy
những điều nói trên liên quan gì đến đô thị học, quy hoạch đô thị hay thiết kế
đô thị?
Quan niệm “vẻ đẹp nằm trong mắt kẻ si
tình “ vẫn là phổ biến trong giới kiến trúc và quy hoạch đô thị là”- nói một
cách nôm na, mỗi người quan niệm cái đẹp một cách khác nhau, không có chuẩn mực
để đánh giá cái đẹp. Anh thích màu hồng, tôi thích màu tím. Chấm hết. Nhưng như
đã chỉ ra ở trên các nghiên cứu nghiêm túc nhất của những chuyên ngành khác
nhau chỉ ra điều ngược lại. The beauty is not on the eyes of beholders”- Hơn thế nữa đô thị như một hệ phức hợp đều sở
hữu các thuộc tính đột khởi (điều mà Jane Jacobs đã tiên tri được từ trước khi
khoa học về các hệ phức hợp ra đời). Nhiệm vụ của nhà thiết kế đô thị và kiến
trúc sư là phải vươn tới một hình thức hoàn hảo cho đô thị và kiến trúc. Hình
thức hoàn hảo đó, may thay không phải là cái gì mà chúng ta phải bắt đầu từ số
không, đã có những người đi tiên phong trước chung ta hàng chục năm, thậm chí
cả thế kỷ (như trường hợp của Camillo Sitte) kiếm tìm một hình thức hoàn hảo
cho đô thị.
….Đến
lý thuyết chuẩn mực về hình thức đô thị
Phản ánh mối quan tâm trở lại trong
nghiên cứu về hình thức đô thị. Các công trình của Sternberg (2000) và Berke
(2002) đã chỉ ra sự cần thiết và khả năng làm được của quy hoạch đô thị trong
việc hỗ trợ các hình thức đô thị tốt. Trong bài báo “Vượt qua chủ nghĩa tương
đối- Tìm kiếm lại hình thức đô thị hoàn hảo[iii]
hai tác giả Emily Talen và Cliff Ellis (2002) đã duyệt lại
các lý thuyết chính liên quan đến hình
thức đô thị và khuyến nghị một cách mạnh mẽ một lý thuyết chuẩn mực về hình
thức đô thị. Lời kêu gọi của họ đã được đáp ứng bởi đề xuất về một chủ trương
tích hợp và các chỉ tiêu cho hình thức đô thị bền vững của Jabareen (2006) và Garde
(2008). Một lý thuyết chuẩn mực về hình thức đô thị ở đây được hiểu là “sự truy
tầm cái xuất sắc, chất lượng và vẻ đẹp trong môi trường xây dựng của chúng ta-
làm thế nào để các vùng đô thị của chúng ta có được những phẩm chất đó” (Talen
and Ellis 2002).
Kevin Lynch là một trong những người
tiên phong trong việc xây dựng và phát triển lý thuyết chuẩn mực về hình thức
đô thị. Trong công trình “đỉnh” của mình Hình
thức đô thị hoàn hảo, Lynch (1984) đã phát triển một lý thuyết chuẩn mực
trong đó bao gồm năm tiêu chuẩn sự sống
động (khả năng hỗ trợ các nhu cầu sinh học), cảm nhận (nhận thức mang tính tinh thần và sự phân biệt các điểm
cư trú), sự tiếp cận (khả năng tiếp
cận các nguồn tài nguyên), sự vừa vặn (sự
vừa khớp giữa kiểu mẫu và hành vi), sự
kiểm soát (khả năng kiểm soát nơi cư trú) và hai siêu-chỉ tiêu là tính hiệu quả (chi phí) và tính công bằng[iv].
Trong khi cái cảm nhận (sense) của
Lynch đề cập tới sự rõ rệt trong nhận thức của con người về hình thức đô thị, khái
niệm về sự cảm nhận được Jane Jacobs (1961) nói tới trong tác phẩm nổi tiếng Về cái chết và sự sống của các Đại đô thị
Mỹ, bà nhấn mạnh tới cảm nhận về nơi chốn như là kết quả của sự đa dạng tìm
thấy được trong thành phố. Sự đa dạng này bao gồm đa dạng về các loại sử dụng
đất, đa dạng về không gian đô thị, và các đặc tính bổ sung như khối phố nhỏ,
các công trinh với nhiều độ tuổi khác nhau, xây dựng mật độ cao. Jacobs còn đi
xa hơn nữa bằng việc đưa ra tư tưởng mang tính tiên tri về nhu cầu cần phải xem
xét vấn đề của đô thị như là vấn đề về “sự phức hợp có tổ chức” (Jacobs
1961, 559) chính là sự đa dạng tồn tại trong
một khuôn khổ trật tự nhất định. Khái niệm về sự đa dạng này có một ẩn ý rất
đáng kể tới khái niệm về trật tự trong đô thị học- một chủ đề nghiên cứu suốt
cả sự nghiệp của Christopher Alexander. Thông qua việc phê phán lối tự duy
thiết kế kiểu “cây phả hệ”, Alexander (1965) cho rằng thành phố cần phải được
tổ chức thành cấu trúc “bán phủ chồng” (semi-latice[v]).
Một cấu trúc với các mối quan hệ tương
liên phi-phả hệ (phi tầng bậc nếu bạn thích gọi như vậy) nhằm đạt đến tính phức
hợp. Khái niệm này được thể hiện trong một hệ thống các mạng lưới liên hệ qua
lại của các kiểu mẫu không gian và xã hội được phát triển lên trong Một ngôn ngữ kiểu mẫu (Alexander et al.
1977). Việc sử dụng một ngôn ngữ kiểu mẫu đảm bảo sự thành công của các công
trình kiến trúc và không gian công cộng trong xã hội truyền thống bởi vì nó chính
là nguồn tài nguyên dồi dào và chân thực (genuine) cho các giải pháp thiết kế (Alexander
2002 và Salingaros 2007). Tuy thế, sau này Alexander nhận ra rằng một mình ngôn
ngữ kiểu mẫu không thôi thì không đủ để tạo ra cấu trúc đô thị có chất lượng,
cái chất lượng mà ông gọi là “phẩm chất không thể gọi tên” (quality without
name) (Alexander
1979, 19). Ông đề xuất rằng chúng ta cần phải
có ngôn ngữ hình thức để quy định quá trình chuyển đổi trong môi trường vật
thể. Một ngôn ngữ hình thức được xác định như “khái niệm cụ thể và có tính ứng
dụng của lối kiến tạo và bề mặt hình học” (particular and practical conception
of tectonic and surface geometry) (Salingaros 2007, 221) hay nói một cách đơn
giản hơn là tập hợp các quy luật hình học chỉ đạo một lối kiến trúc. Liên quan
đến tầm quan trọng của ngôn ngữ hình thức, Salingaros (2007,
237)
cho rằng “một ngôn ngữ hình thức phải liên hệ mật thiết với ngôn ngữ kiểu
mẫu”. Trong khi một ngôn ngữ hình thức
có thể được “chế” ra, một ngôn ngữ kiểu mẫu phải được phát hiện thông qua quá
trình quy nạp và quan sát cuộc sống của thành phố. Salingaros nhận định rằng
ngôn ngữ hình thức trong kiến trúc truyền thống thì “giàu có, hoàn thiện và
tiên tiến về mặt kỹ thuật[vi]”(Salingaros
2007, 211). Do đó cả hai loại ngôn ngữ phải
được sử dụng trong quá trình tiến hóa của cấu trúc, đó chính là quá trình
generative. Ở đây Alexander xác định quá trình generative như là quá trình phát
triển lần lần theo đó cấu trúc được cải thiện và tăng cường dựa trên thông tin
phản hổi từ bước phát triển trước đó. Trong quá trình này sự đột khởi xuất hiện
như một trong những đặc điểm quan trọng nhất của hệ phức hợp. Vì thế sự đột
khởi và quá trình generative là khái niệm căn bản về hình thức đô thị tốt.
Nhìn
về quá khứ một chút. Thông qua việc nghiên cứu các tàng thư, Besim Hakim kết
luận rằng hình thức đô thị được định hình dựa trên các siêu quy tắc
(meta-principles) và các luật lệ kiểu hạn chế (proscriptive law[1])
(1986;
2007; 2008). Các điều luật về xây dựng và các
cơ chế liên quan đến chính sách ở vùng này bắt chước quá trình phát triển trong
tự nhiên- cụ thể là, quá trình sinh thành, tăng trưởng, chết và tái sinh, vốn
trở thành mô hình cho quá trình phát triển tự nhiên của thành phố. Công trình
của Hakim ngụ ý rằng hình thức của các khu định cư truyền thống phản ảnh các
đặc điểm của tính đột khởi (emergence[1])
của các hệ thống đô thị.
Tóm lại, vẻ đẹp là khách quan và việc nghiên cứu một hình
thức chuẩn mực đô thị là cần thiết. Việc phải làm tiếp theo với các nhà nghiên
cứu đô thị học và kiến trúc là phải lập nên một lý thuyết tổng quát dựa trên
các kêt quả của Lynch, Jacobs, Alexander và nhiều người khác để hướng dẫn nhà
quy hoạch trong hoạt động nghề nghiệp của mình.
Tài
liệu tham khảo
Alexander,
Christopher, Sara Ishikawa, Murray Silverstein, Max Jacobson, Ingrid
Fiksdahl-King, and Shlomo Angel. 1977. A Pattern Language: Towns, Buildings,
Construction. New York: Oxford University Press.
Berke, Philip.
R. 2002. “Does Sustainable Development Offer a New Direction for Planning?
Challenges for the Twenty-first Century.” Journal of Planning Literature
17 (1): 21–36.
Jabareen, Yosef.
R. 2006. “Sustainable Urban Forms Their Typologies, Models, and Concepts.” Journal
of Planning Education and Research 26 (1): 38–52
Garde, Ajay M.
2008. “Innovations in Urban Design and Urban Form The Making of Paradigms and
the Implications for Public Policy.” Journal
of Planning Education and Research 28 (1): 61–72.
Hakim, Besim S.
1986. Arabic-islamic Cities. New York: KPI.
———. 2007.
“Generative Processes for Revitalizing Historic Towns or Heritage Districts.” Urban
Design International 12 (2): 87–99.
———. 2008.
“Mediterranean Urban and Building Codes: Origins, Content, Impact, and
Lessons.” Urban Design International 13 (1): 21–40.
Holland, John. 1997. “Emergence.” Philosophica 59
(January 1).
———.2000. Emergence:
From Chaos to Order. New York: Oxford University Press.
Lansing, J.
Stephen. 2003. “Complex Adaptive Systems.” Annual Review of Anthropology:
183– 204.
Mitchell,
Melanie. 2009. Complexity: a Guided Tour. New York: Oxford University
Press.
Rentschler,
Ingo, Barbara Herzberger, and David Epstein. 1988. Beauty and the Brain:
Biological Aspects of Aesthetics. Basen: Birkhäuser Verlag.
Salingaros,
Nikos A. 2007. A Theory of Architecture. Solingen: Umbau-Verlag.
Sternberg,
Ernest. 2000. “An Integrative Theory of Urban Design.” Journal of the
American Planning Association 66 (3): 265–278.
Talen, Emily and
Cliff Ellis. 2002. “Beyond Relativism Reclaiming the Search for Good City
Form.” Journal of Planning Education and Research 22 (1): 36–49.
[i] Nếu đọc xong bài này bạn vẫn
chưa tin rằng vẻ đẹp là khách quan thì xem bài dịch dưới đây về nhận thức vẻ
đẹp của mọi người
[ii]
Supervenience: tạm dịch là tính chất bất ngờ…
[iii] Relativism: tạm dịch là chủ
nghĩa tương đối, xin đừng nhầm lẫn với thuyết tương đối của Einstein. Ở đây chủ
nghĩa tương đối trong khoa học xã hội và nhân văn cho rằng các hệ thống giá trị
là tương đối, không có cái đẹp, không có sự thật tuyệt đối.
[iv] Nguyên văn: vitality; sense; access; fit; control, and two
meta-criteria, efficiency and justice.
[v] Semi-latice: cấu trúc bán phủ
chồng, xin xem bài Thành phố không phải
là cây phả hệ của Alexander trong blog này.
[vi] Salingaros nhấn mạch
“technically advance” tiên tiến về mặt kỹ thuật chứ không phải là
“technologically advance” tiên tiến về mặt công nghệ. Vì trong khi kiến trúc
truyền thống có thể không tiên tiến về công nghệ nhưng lại dụng công, tinh xảo,
và vì thế tiên tiến về mặt kỹ thuật- khác hẳn với kiến trúc hiện đại.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét