Thứ Ba, 6 tháng 7, 2021

Đi tìm phần "hồn" của đô thị Đà Nẵng thông qua phương pháp generative- Nguyễn Văn Từ Huy

 Dưới đây là một bài luận của Nguyễn Văn Từ Huy, sinh viên Khoa Kiến trúc trường Đại học Bách Khoa, Đại học Đà Nẵng về ngôn ngữ kiểu mẫu và quá trình generative

·        Phần mở đầu

   Khi nhắc đến “linh hồn” của một đô thị, thì người ta lại nghĩ đến những thành tố bên trong chính là những cấu trúc đô thị như quảng trường, đường phố hoặc các tòa nhà, hoạt động của con người cùng các yếu tố phi vật chất như lịch sử, văn hóa v.v.. Chính những yếu tố đó đã tạo nên phần “hồn” của mỗi đô thị, là riêng biệt, là bản sắc.

           

   Bàn về mối tương quan giữa phố và người, cựu thủ tướng Anh Winston Churchill (1940) đã từng phát biểu rằng: “Chúng ta dựng nên thành phố, để rồi sau đó, chúng dựng nên chúng ta” [2]. Hơi thở đặc trưng trong nhịp sống đô thị có thể được bắt gặp và cảm nhận rõ rệt tại các không gian công cộng. Là nơi diễn ra các hoạt động sinh hoạt và giao tiếp kết nối mọi người, không gian công cộng vì thế góp phần tác động không nhỏ vào chất lượng sống của cư dân và đồng thời là chất xúc tác khiến một đô thị trở nên đáng yêu, đáng sống và đáng gắn bó.

   Và nếu như hình ảnh của mỗi đô thị khắc họa nên tâm tư của thị dân, là tấm gương phản ánh những suy nghĩ và mong muốn của con người nơi đó thì ngược lại, cách ứng xử, giao tiếp hay thói quen, hành vi đặc trưng của thị dân cũng trở thành thứ “mật mã” đặc biệt để nhận biết văn hóa, diện mạo của một đô thị.

   Để lấy ví dụ về không gian công cộng tại Việt Nam, có thể kể đến “Không gian mở của quảng trường phía trước thành Điện Hải – Thành phố Đà Nẵng”. Không gian gặp gỡ, giao lưu giữa mọi người, là khu vực trung tâm mang trong mình những giá trị to lớn về lịch sử, văn hóa, kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng của thành phố.

   Trong học kỳ vừa rồi, chúng tôi đã có cơ hội tham gia đồ án “Quy hoạch đô thị” tại địa điểm là trung tâm hành chính Đà Nẵng, khu vực trước thành cổ Điện Hải, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy Nguyễn Hồng Ngọc (2021). Trong quá trình thực địa, khảo sát, tìm ý và phân tích trên nhiều phương diện thì chúng tôi thấy rằng: “Không gian đô thị tại đây đang bị “buồn”, thiếu sức sống, thiếu mối liên kết giữa các công trình đã và đang có”. Đơn cử như Thành cổ Điện Hải ẩn mình sau những gốc cổ thụ sừng sững, một chứng nhân lịch sử quan trọng mà khi nhắc đến nó thì một số người lại tỏ ra không biết.

   Yêu cầu chính đặt ra ở đây là tái thiết không gian đô thị, một đô thị cho mọi người, chuyển tải được tính nhân văn, tính đại đồng dân tộc, sự hài hoà với thiên nhiên và cảnh quan của thành phố “Núi – Sông – Biển”. Làm phần “hồn” đô thị được sống dậy cũng như thúc đẩy phát triển vùng về mọi mặt.

   Vậy câu hỏi được đặt ra: Để đạt được những yêu cầu trên thì cần làm gì? Câu trả lời là khai mở “tầm nhìn” của một đô thị, vận dụng quá trình Generative và tạo ra những “ngôn ngữ kiểu mẫu” để tái thiết không gian công cộng.

·        Cơ sở lý thuyết

   Giới thiệu về phương pháp Generative

Do giáo sư Christopher Alexander (Đại học California, tại Berkeley – UC. Berkeley) và các cộng sự phát triển từ những năm 70 của Thế kỷ XX [1]. Phương pháp nhấn mạnh vào quá trình phát triển toàn thể (Wholeness) của công tác quy hoạch và kiến trúc. Theo đó quá trình xây dựng và quy hoạch cũng phải phát triển dần dần như một cơ thể sinh vật, trong đó sinh vật luôn luôn giữ được thuộc tính của mình nhưng vẫn luôn luôn biến đổi thích ứng với môi trường và với quá trình tiến hoá.

   Ngoài ra, Alexander và đồng sự (1978) cho rằng kiến trúc và các thành phần đô thị được tạo nên bởi các kiểu mẫu – Các giải pháp không gian và xã hội cho những vấn đề kiến trúc và quy hoạch các kiểu mẫu được tổ chức trong một hệ thống kết nối với nhau và mang tính tầng bậc, hệ thống này cho phép tạo nên một số lượng vô hạn các cách phối hợp [1].

   Một thành phần nữa cũng rất quan trọng trong quá trình Generative là ngôn ngữ hình thức. Alexander (2002) đã đề xuất rằng để xây dựng một môi trường thực sự có sự sống, điều cốt yếu là phải có một thứ ngôn ngữ hợp tác với ngôn ngữ kiểu mẫu: Ngôn ngữ hình thức. Một nhà nghiên cứu làm việc gần gũi với Alexander là Salingaros (2008,221) trong cuốn Một lý thuyết kiến trúc (A Theory of Architecture) xác định ngôn ngữ hình thức như là “sự khái niệm hoá cụ thể và thực tế cái hình học và bề mặt cấu trúc”. Nói một cách đơn giản đó là tập hợp các quy tắc hình học chỉ đạo một kiểu kiến trúc. Thông quá các thành phần không gian và bề mặt của ngôn ngữ hình thức mà một công trình truyền tải nội dung thông tin và cảm xúc nó tới công người [1].

·        Nội dung nghiên cứu

   Áp dụng phương pháp Generative để khai mở, kiến tạo tầm nhìn khu vực (Không gian quảng trường trung tâm thành phố Đà Nẵng). Phương pháp này gồm năm vòng lặp:

+ Vòng lặp thứ nhất: Phân tích cấu trúc toàn bộ của khu đất, khảo sát tính chất kết nối về giao thông với các khu vực khác xung quanh và chương trình sơ bộ của khu đất [3]. Ở vòng lặp này, chúng ta khảo sát địa điểm: Phân tích những vị trí đặc biệt, những địa điểm nổi bật như công trình di tích lịch sử như Thành cổ Điện Hải, toà nhà hành chính Đà Nẵng, Thư viện phần mềm v.v.. Chỉ rõ các tầm nhìn đẹp cần tăng cường hướng ra sông Hàn và hướng về đỉnh núi Sơn Trà. Tính mật độ xây dựng các loại nhà, phần trăm đất dành cho đi bộ, đất cây xanh, đất xây dựng công trình công cộng, đất cho ô tô. Các điểm kết nối về giao thông giữa khu vực lân cận với khu vực khảo sát. Các loại nhà có thể được hưởng lợi từ cảnh quan nhìn ra sông Hàn.

+ Vòng lặp thứ hai: khảo sát kỹ lưỡng hơn cấu trúc chi tiết của khu đất, nhà ở hiện có, các cơ sở kinh doanh hiện có, không gian công cộng hiện có, đặc điểm của các kết nối, các tầm nhìn, các khu vực quan trọng [3].

   Hình thành các không gian tích cực quy mô lớn như quảng trường, công viên, khu chung cư thấp tầng phục vụ giải tỏa những công trình nhà ở cũ kỹ v.v… Các không gian này là những trường trung tâm mạnh, chúng được bao bọc, có tính kết nối cao- tính chất đóng của không gian.

   Tạo nên những trục cảnh quan dọc hai bên đường, những đại lộ cây xanh, ví dụ ở trục Bạch Đằng, Quang Trung, v.v…

   Các cơ sở thương mại hiện tại cần giữ lại, kết hợp với nhà ở hiện có.

+ Vòng lặp thứ ba: Thiết lập một cách sơ bộ các cấu trúc mới và các không gian mở (open space: không gian mở là không gian bên ngoài công trình ví dụ công viên, vườn hoa công cộng, quảng trường v.v..) [3].

   Xác định sơ bộ vị trí của công trình: bố cục sơ bộ các dãy nhà, các chuỗi không gian tích cực, hiệu chỉnh vị trí của các dãy nhà để tăng cường tầm nhìn và chất lượng tích cực của không gian ngoại thất.

+ Vòng lặp thứ tư: hiệu chỉnh chi tiết hơn các đường phố, các đường đi bộ và đường dạo, các công trình công cộng, các kết nối giữa các hạng mục hiện có [3].

   Tính toán bãi đỗ xe ô tô và xác định vị trí bãi đỗ.

   Tính chất kết nối của đường đi bộ: các đường đi bộ chính dọc đường Bạch Đằng, Quang Trung v.v… Bố trí đường đi bộ từ mỗi bãi đỗ đến nhà ở.

   Các đường nối vòng, các khoảng hở, những đại lộ cây xanh.

   Mức độ thứ hai của không gian tích cực: Các tòa chung cư ở quy mô nhỏ, phân chia các dãy nhà để hình thành các khối tích nhà, lưu ý tầm nhìn hướng ra sông Hàn.

   Tăng cường mạng lưới đường đi bộ trong khu vực lân bang: đặt những điểm nhấn nhỏ và các trường trung tâm có công năng riêng để khi tới đó người ta cảm thấy thoải mái.

   Các phương tiện vận chuyển khẩn cấp (xe chữa cháy, xe cứu thương v.v…): đảm bảo thông suốt cho những phương tiện này trên đường bộ.

+ Vòng lặp thứ năm: Hình thành các không gian riêng cho ngôi nhà, vườn, các thiết kế chi tiết [3].

   Xác định vị trí từng ngôi nhà: Vẽ đường ranh giới phân định nhà và đường phố, đánh dấu vị trí của từng ngôi nhà riêng lẻ. Xác định vị trí và quy mô của vườn, sân trời, lối vào nơi ở, các phòng, vị trí cửa sổ.

 

   Từ những vòng lặp, chúng ta đã có thể thấy được khai quát tầm nhìn của khu vực, một đô thị văn minh an toàn và đáng sống. Sự pha trộn giữa cái mới và cái cũ đã làm nên một Đà Nẵng đậm đà bản sắc, nét riêng mà không địa phương nào giống cả.

  

   Qua quá trình khai mở này, Alexander đã dẫn chúng ta tới việc tạo ra từng kiểu mẫu riêng biệt, đây chính là tiền đề tạo nên tuyển tập 253 “Ngôn ngữ kiểu mẫu” [1].

   Kể đến không gian đầu tiên áp dụng ngôn ngữ kiểu mẫu là quảng trường, chính bản thân nó là một trường trung tâm mạnh, tuy nhiên bên trong nó cần hình thành thêm nhiều trường trung tâm nhỏ hơn với mục đích làm giàu “kiểu mẫu” thu hút con người đến tham quan. Ví dụ kiểu mẫu “một cái gì đó gần ở giữa (126)”, người thiết kế thường đặt những bức tượng, đài phun nước, v.v… làm nó trở thành một trường trung tâm nhỏ, một điểm hút đến mọi người có thể tiếp cận dễ dàng. Ngoài ra, người thiết kế còn đặt thêm nhiều quầy bán nước di động – kiểu mẫu “kios bán hàng (74)” để mọi người có thể mua nước dễ dàng mà không cần phải vào tạp hóa, siêu thị, v.v… Bố trí nhiều băng ghế phân tán xung quanh quảng trường, núp phía dưới những hàng cây xanh , kiểu mẫu áp dụng ở đây là “chỗ ngồi ngoài trời (241)”. Còn nhiều kiểu mẫu khác mà ta có thể áp dụng, mục đích chính là làm cho trung tâm đô thị Đà Nẵng có sức sống, kết nối các địa điểm lân cận trong vùng, địa điểm thu hút tất cả mọi người đến tham quan, vui thú.

·        Kết luận rút ra

   Từ những dẫn chứng, cơ sở lý thuyết cùng với khảo sát thực tế khu vực trung tâm thành phố Đà Nẵng. Có thể thấy phương pháp Generative, cùng với hệ thống ngôn ngữ kiểu mẫu đa dạng, đã làm cho đô thị này có thêm một tầm nhìn mới hơn, hấp dẫn hơn, những bản sắc truyền thống vẫn được giữ gìn và bảo tồn, sự kết nối giữa các không gian với nhau, kiến tạo nên một không gian đô thị “xanh” gần gũi với mọi người, chúng ta được sống trong một môi trường an toàn, trong lành và tràn đầy sức sống.

   Xin cám ơn Christipher Alexander cùng với quá trình khai mở Generative và hệ thống “ngôn ngữ kiểu mẫu” đã giúp chúng tôi có thể tiếp cận dễ dàng với quy hoạch, với những vốn sẵn có đó tôi tin rằng, cần thời gian trau dồi, thì chúng tôi có thể là một nhà quy hoạch giỏi trong tương lai, góp phần sức nhỏ của mình cho công cuộc tái thiết đô thị, xây dựng nên một môi trường sống hài hòa cho tất cả mọi người. Ngoài ra, tôi xin chân thành cám ơn thầy Nguyễn Hồng Ngọc, đã giảng dạy và truyền đạt nhiều thông tin bổ ích về bộ môn quy hoạch cũng như những kiến thức thực tế, làm cho chúng tôi có cái nhìn tổng quát hơn về ngành và nghề, cũng như thêm yêu ngành kiến trúc hơn.

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Hồng Ngọc (2016). Giáo trình thiết kế đô thị, NXB Đà Nẵng , Đà Nẵng.

[2] http://www.ashui.com/ Đi tìm “phần hồn” của đô thị - Thử thách thú vị dành cho các tài năng kiến trúc trẻ

[3] Nguyễn Hồng Ngọc (2021). Tài liệu hướng dẫn làm đồ án quy hoạch, Khoa Kiến Trúc, Đại học Bách Khoa Đà Nẵng.

  

 

 

  

 

 

Không có nhận xét nào:

Kevin Lynch- Good City Form- Hinh thuc hoan hao cua thanh pho