Nguyễn Hồng
Ngọc
Tác phẩm Một ngôn
ngữ kiểu mẫu do Christopher Alexander và cộng sự viết đã trở thành tác phẩm kinh điển trong kiến trúc và quy hoạch đô thị. Ngôn ngữ kiểu
mẫu sử dụng các kiểu mẫu, được tổ chức trong một hệ thống nửa tầng bậc, nhằm đưa ra các giải pháp không gian và xã hội cho môi trường
xây dựng. Theo Alexander một ngôn ngữ kiểu mẫu có các đặc điểm
sau: i) khả năng phối hợp vô tận; ii) Khả năng thích ứng với điều kiện địa
phương; iii) mỗi ngôn ngữ kiểu mẫu phản ảnh kiến thức chung về môi trường xây
dựng mà cộng đồng cùng chia sẻ.
Trong tác phẩm đồ sộ Về bản chất của trật tự (The
Nature of Order) Alexander (2002; 2004) nhận thấy rằng
để thiết kế kiến trúc và đô thị thành công ngoài ngôn ngữ kiểu mẫu vốn giải
quyết vấn đề xã hội và không gian của công trình và đô thị thì chúng ta cần phải có ngôn ngữ hình thức. Ngôn ngữ hình thức là tập hợp các quy tắc hình học mà một
công trình xây dựng phải truyền tải trực tiếp những nội dung thông tin và cảm
xúc của nó tới con người (Salingaros 2008). Cả hai
loại ngôn ngữ này phải làm việc cùng với nhau và cùng tạo ra một cái toàn thể
(the wholeness) cho cấu trúc đô thị hoặc công trình. Khái niệm trung tâm của quá trình xây dựng phát triển dần dần theo quan niệm của Alexander chính là
cái toàn thể. Cũng trong cuốn Về bản chất
của trật tự, Alexander ghi nhận rằng khái niệm cái toàn thể của ông có
nhiều mức độ tương đồng với Phẩm chất (Quality) của Robert Pirsig.
2. Phẩm chất và cái toàn thể
Trong qúa trình phát triển
dần dần nơi mà sự tiến hóa mang tính quá trình (process-oriented evolution) hay
sự “phát triển hữu cơ” xảy ra trong môi trường đô thị, Alexander phát hiện sự
nổi lên của một phẩm chất gọi là “toàn thể” (Alexander et al. 1987). Alexander
nhấn mạnh tầm quan trọng của quá trình trong đó các thành viên tham gia tăng
cường tính toàn thể của môi trường xây dựng một cách tập thể và tuần tự.
Alexander cũng giống như Pirsig đều không đưa ra định nghĩa nào về cái toàn thể
vì cho rằng không định nghĩa nào có thể nắm bắt
lấy Toàn thể và dùng lời nói chỉ làm cho chúng ta đi xa khỏi
nhận thức về toàn thể.
Tuy nhiên chúng ta có thể hiểu thô sơ rằng Toàn
thể theo kiểu của Alexander ngầm định một mối liên hệ toàn cục giữa một cấu
trúc và các thực thể khác trong khi duy trì một tình trạng trật tự cao và gắn
bó bản thân bên trong cấu trúc (Alexander 2002).
Khái niệm Phẩm chất của Robert Pirsig lần đầu tiên
xuất hiện trong tác phẩm triết học viết dưới dạng tiểu thuyết, Thiền và Nghệ thuật bảo trì xe máy (Zen
and the Art of Motorcycle Maintenance) đây là tác phẩm triết học thuộc loại
best-selling với hơn 5 triệu bản sách được bán hết và được dịch ra hơn ba mươi
thứ tiếng trên thế giới. Trong tác phẩm này Pirsig mong muốn thống nhất vật
chất và ý thức, chủ thể và khách thể bằng cách đưa ra một quan điểm nhất nguyên
siêu hình. Ông nói: “Phẩm chất là cội nguồn và bản thể của mọi vật (Pirsig,
1974, 254). William James nhà triết học thực dụng Mỹ
cũng cho rằng, sự phân biệt thành vật chất và ý thức chỉ là sự bổ sung sau này
về mặt nhận thức với kinh nghiệm có trước. Theo James không hề có sự tách biệt
chủ thể và khách thể, sự phân chia người nhận thức và cái được nhận thức và
thời điểm trải nghiệm. James gọi cái thành phần trung tính này của thực tại là
“kinh nghiệm thuần túy” (pure experience) (James, 1947, 93). Tương tự như vậy
Alfred North Whitehead (1979) cho rằng cái kiến tạo nên thế giới không phải là
gì khác hơn sự kiện (event) mà ông gọi là các thực thể
thực tế (actual entities), các sự kiện này góp phần tạo nên cả thế
giới mà ta gọi là bao gồm vật chất và ý thức. Điều này có vẻ là rất khó hiểu
với tri thức thông thường của chúng ta nhưng nếu chúng ta biết rằng vật lý
lượng tử chỉ ra rằng cái kiến tạo nên thế giới lượng tự chính là các sự kiện lượng tử (Pirsig 1992).
Pirsig viết tiếp: “Phẩm chất (hay giá trị, hay cái tốt) là thực tại”. Cái định
nghĩa duy nhất mà Pirsig đề xuất cho phẩm chất là nó không thể định nghĩa được
bởi vì nó là năng động và nó là “vô định hình, không hình thức, và không thể mô
tả được” (1974, 252). Thêm vào đó Pirsig giải thích rằng: “bất kỳ sự
giải thích triết học nào về Phẩm chất đều là vừa đúng hoặc vừa sai bởi vì nó là
một cách giải thích triết học. Quá trình giải thích triết học lại là một quá
trình phân tích, một quá trình bẻ gãy một thứ gì đó thành chủ ngữ và vị
ngữ…Những gì mà tôi (và mọi người) đều nói đến bằng từ “phẩm chất” không thể bị
chia thành chủ ngữ và vị ngữ. Đây không phải bởi vì Phẩm chất là quá bí ẩn mà bởi vì Phẩm
chất quá đơn giản, ngày lập tức và trực tiếp” [nhấn mạnh của tác giả]. Chúng ta thấy ở đây sự tương tự trong nhận
thức của Pirsig và James về thực tại, đó là “ngay lập tức và trực tiếp”.
Pirsig cho rằng cách hiểu Phẩm chất thô sơ
nhất đó là Phẩm chất là sự phản ứng của một cơ thể với môi trường của nó. Ông
dùng khái niệm con trùng a mip (amoeba) khi phải tiếp xúc với môi trường axit
loãng (8, trang 244):
Con amip sẽ lùi
ra khỏi vùng có chứa axit. Vốn không biết gì về axit sulphuric, nếu con amip
nói được nó sẽ nói rằng “môi trường này
có phẩm chất quá tệ”. Nếu con amip có một hệ thần kinh phát triển nó sẽ hành động
theo một cách phức tạp hơn để khắc phục tình trạng kém phẩm chất của môi trường.
Nó có thể tìm kiếm sự tương tự ví dụ như hình ảnh và biểu tượng từ kinh nghiệm trước đó để xác định bản
chất không thoải mái của môi trường mà nó đã tiếp xúc và vì thế “hiểu” về môi
trường đó. Thế còn trong thế giới của chúng ta, chúng ta đã tiến hóa tới mức
sáng tạo ra những sự tương tự kỳ diệu nhất, con người phát minh ra thiên đường,
trái đất, cây cối, tảng đá, đại dương, các thượng đế, âm nhạc, nghệ thuật, ngôn
ngữ, triết học, kỹ thuật, nền văn mình và khoa học. Chúng ta gọi những cái
tương tự này là thực tại. Đúng là chúng cũng là thực tại. Nhưng thứ khiến chúng ta phát mình ra những tương tự này chính là Phẩm
chất. Phẩm chất là sự kích thích liên tục mà môi trường buộc chúng ta phải tạo
nên thế giới mà chúng ta sống [tác giả nhấn mạnh]. Mọi thứ, mọi chi tiết của
nó đều được tạo ra như vậy.”
Như vậy theo Pirsig, Phẩm chất không thể được định
nghĩa bởi vì nó đi trước về mặt trải nghiệm bất kỳ sự xây dựng về mặt ý thức
nào. Phẩm chất có trước bất kỳ khái niệm nào (và chính vì thế nó không thể được
định nghĩa, nếu định nghĩa ta sẽ có một thứ gì ít hơn là Phẩm chất). Phẩm chất
là động lực cơ bản nhất trong vũ trụ tạo nên mọi thứ từ nguyên tử tới các loài
động vật, khiến cho chúng tiến hóa và đạt đến một mức độ cao hơn của Phẩm chất.
Quan niệm về một “thứ” gì đó là nguồn gốc của thế giới được gọi là quan niệm
Siêu hình (Metaphysics) và Pirsig gọi quan niệm coi Phẩm chất là ngọn nguồn và
động lực của vũ trụ là Siêu hình học về Phẩm chất (Metaphysics of Quality-MOQ).
Pirsig (1991) giới thiệu một cách bài bản MOQ trong
tác phẩm Lila: Một cuộc khảo cứu về đạo đức, trong đó
ông cho rằng không thể định nghĩa, không thể xác định Phẩm chất, nhưng để hiểu
nó rõ ràng hơn nó, Pirsig chia Phẩm chất
thành hai hình thức: Phẩm chất động (Dynamic quality) và Phẩm chất tĩnh (Static
quality). Phẩm chất tĩnh có thể được định dạng (patterned) còn phẩm chất động
là không thể định dạng (unpatterned). Cả phẩm chất động và bốn dạng của phẩm
chất tĩnh bao hàm toàn bộ thực tại. Khi
nào phẩm chất động trở thành ổn định nó biến thành các kiểu thức của phẩm chất
tĩnh. Cần chú ý ở đây là, MOQ không phải là quan điểm nhị nguyên (tức là
quan điểm thế giới bao gồm hai “thứ” cơ bản: vật chất
và ý thức), mà thế giới theo MOQ chỉ bắt nguồn từ một, đó
là Phẩm chất. Phẩm chất này thể hiện khác nhau trong mỗi sự vật. Sự thể hiện phẩm chất theo các khía cạnh động và tĩnh
này chính là quan niệm biện chứng nhất nguyên.
Trong sơ đồ của Pirsig, Phẩm chất động chỉ có thể được
hiểu thông qua cách dùng so sánh tương tự. Phẩm chất động, hay là cái Giá trị
(value), hay là Cái tốt (good) là động lực tạo nên những thay đổi trong thế
giới. Khi một khía cạnh của Phẩm chất ổn định hoặc trở nên quen thuộc nó trở
thành tĩnh. Phẩm chất động là “cái chiều kích tiền-nhận thức
của thực tại” bởi vì Phẩm chất được nhận thức trước và được khái niệm hóa sau.
Đó là vì sao vẻ đẹp của một tác phẩm âm nhạc hay hội họa được nhận thức trước;
trước khi lời giải thích về cái hay cái đẹp của âm nhạc thành hình. Pirsig sử
dụng ví dụ một người nghe một đĩa nhạc hay, sau bao nhiêu lần nghe, cái tuyệt
vời, cái sáng bừng của âm nhạc phải dành chỗ cho sự mệt mỏi và chán ngán. Có nghĩa là ở đây Phẩm chất động đã trở thành tĩnh sau
khi đã ổn định, đã được làm cho quen.
Phẩm chất tĩnh đơn giản hơn phẩm chất động vì nó có thể được định nghĩa. Phẩm chất tĩnh có tên và
có thể dùng để trao đổi giữa mọi người để xây dựng nên một nền văn hóa. Pirsig chia Phẩm chất tĩnh thành bốn kiểu thức
theo trật tự đạo đức tăng dần: vô cơ, sinh học, xã hội, và trí tuệ (hình 1). Kiểu thức vô cơ bao gồm những vật không có sự sống, kiểu
thức sinh học bao gồm những thứ có sự sống, kiểu thức xã hội bao gồm hành vi,
thói quen, nghi thức, các thiết chế, kiểu thức trí tuệ bao gồm các tư tưởng. Pirsig mô tả sự tiến hóa như là sự tiếp diễn
đạo đức của các kiểu thức này. Chẳng
hạn một kiểu mẫu sinh học vượt qua kiểu mẫu vô cơ (ví dụ chim bay vượt qua
trọng lực) là một điều đạo đức bởi vì kiểu thức sinh học là hình thức tiến hóa
cao hơn. Tương tự như vậy kiểu thức trí tuệ khi vượt kiểu thức xã hội (ví dụ
phong trào quyền dân sự ở Mỹ) là sự phát triển đạo đức bởi vì kiểu thức trí tuệ
cao là hình thức tiến hóa cao hơn xã hội. Như vậy MOQ có thể trở thành hướng
dẫn đạo đức cho hoạt động hàng ngày của con người.
Như vậy chúng ta đã thấy nhiều điểm tương đồng giữa
Toàn thể của Alexander và Phẩm chất của Pirsig. Cả hai đều được nắm bắt trực
tiếp, thuần túy là kinh nghiệm và có trước bất kỳ phân tích nào. Cả hai đều từ
chối bất kỳ định nghĩa nào vì định nghĩa chỉ cho chúng ta một thứ gì khác ít
hơn là Phẩm chất/Toàn thể vì Phẩm chất là cái có trước tiên. Nhưng chỉ đến khi
Pirsig phân chia Phẩm chất thành
Phẩm chất động và Phẩm chất tĩnh thì khả năng của nó trong việc soi sáng sơ đồ
Toàn thể của Alexander mới trở nên rõ rệt.
Alexander (2002; 2004) cho
rằng quá trình generative bao gồm ngôn ngữ hình thức và ngôn ngữ kiểu mẫu. Mà
mục đích chính của hai ngôn ngữ này là tăng
cường tính Toàn thể của cấu trúc. Trong ngôn ngữ hình thức Alexander cho rằng
có một cách để gợi ý, hướng dẫn chúng ta đạt được tính toàn thể, đó là thông
qua mười lăm thuộc tính của ngôn ngữ hình thức. Mười lăm thuộc tính đó là: Mức độ quy mô (bao gồm số lượng các mức
độ xác định của kích thước), Trường trung
tâm mạnh (vùng không gian thống lĩnh và chiếm tư thế chủ đạo), Đường biên dày (đường biên dày kết nối
các trường trung tâm xung quanh), Lặp xen
kẽ (cấu trúc cần phải có sự lặp xen kẽ), Không gian tích cực (hình dạng xác định trong mối quan hệ với vùng
không gian xung quanh), Hình dạng tốt
(thường đối xứng và có một trường trung tâm được định rõ), Đối xứng cục bộ (đối xứng cục bộ tạo nên sự bố cục cân đối và trật
tự mà không dẫn tới cứng nhắc), Sự xen
cài chặt (các hình thức cài răng lược vào nhau), Tương phản (mức độ tương phản thường tạo nên một cấu trúc cân bằng
và gắn bó), Gradient (sự chuyển dần
trong cấu trúc), Độ thô (sự bất thường,
tập trung vào các chi tiết chủ chốt trong khi bỏ qua các thành phần thứ yếu), Tiếng vọng (các thành phần tương tự nhau
bố trí cùng với nhau để hình thành một cấu trúc thống nhất), Độ rỗng (không
gian ngưng nghỉ trong cấu trúc), Mộc mạc
và Tự tại (Loại bỏ những thành phần không cần thiết và gây mất tập trung), Không phân ly (Không có thành phần nào
bị tách rời).
Nhưng Alexander (2002) cũng cảnh báo rằng mười lăm
thuộc tính trên phải được hiểu như là công cụ hỗ trợ để đạt đến Toàn thể cao hơn, chứ không phải
là mục đích của cái toàn thể. Tương tự
như vậy ngay cả ngôn ngữ kiểu mẫu dù rất mạnh mẽ cũng không phải là mục đích
cuối cùng của quá trình xây dựng. Mục đích cuối
cùng là tạo nên môi trường giàu sự sống (living environment)[1].
Tương tự như với Pirsig mục đích cuối cùng là có
được Phẩm chất cao hơn. Vì vậy ta có sơ đồ như trong hình 2.
Hình 1. Sơ đồ tiến hóa của các kiểu thức trong Phẩm chất tĩnh.
Nguồn: McWatt và Priezkalns
Hình 2. Mối quan hệ giữa Toàn thể và quá trình generative tương tự
như quan hệ giữa Phẩm chất động và Phẩm chất tĩnh. Nguồn:
tác giả
Vậy phải chăng với các phẩm chất không thể gọi tên
được (quality without name) chúng ta không thể đo lường chúng đươc. Về bản chất
đúng là như vậy! Chúng ta chắc không bao giờ có thể đo lường được tính toàn thể
trong một công trình kiến trúc, tương tự như ta không thể đo lường được phẩm
chất theo quan điểm của Pirsig. Nhưng Pirsig đã chỉ ra rằng có hai loại phẩm
chất, phẩm chất động và phẩm chất tĩnh. Trong khi phẩm chất động là cái không
thể nắm bắt phẩm chất tĩnh là cái ta có thể đo lường được (vì về bản chất người
ta tạo ra phẩm chất tĩnh là để giúp cho việc truyền thông, tiện cho việc xây
dựng các thiết chế xã hội cũng như đánh dấu mức độ tiến hóa của vũ trụ và xã
hội loài người). Như thế những nỗ lực đo lường cái toàn thể hoặc phẩm chất là
có cơ sở dù rằng các nỗ lực này chỉ là cách tiếp cận mãi mãi gần đúng tới toàn
thể.
Đo lường sự
sống trong công trình kiến trúc
Phương pháp của Salingaros
Salingaros (2005) đề xuất sử dụng
công thức L = TH (1) để đo lường sự sống
trong một công trình kiến trúc xuất phát từ sự tương tự với quá trình nhiệt
động học trong vật lý. Trong đó
T là nhiệt
của một công trình. Còn H là sự hài hòa trong công trình. T được đo bằng công
thức (2)
T = T1 + T2 + T3 + T4 + T5 (2)
Với :
T1 = cường độ/mật độ của chi tiết
kiến trúc
T2 = cường độ của sự khác biệt của
các chi tiết kiến trúc
T3 = độ cong của đường và hình
T4 = cường độ của màu sắc
T5 = độ tương phản giữa các màu sắc
H được tính
bằng công thức (3):
H = H1 + H2 + H3 + H4 + H5 (3)
H1 = là đối xứng phản xạ (reflection
symmetries on all scales)
H2 = là đối xứng tịnh tiến (translational
and rotational symmetries on all scales).
H3 = mức độ mà các hình thức khác
nhau có hình dạng gần như nhau
H4 = mức độ mà các hình thức liên hệ
về mặt hình học với nhau
H5 = mức độ hài hòa về màu sắc
Phương pháp của Bin Jiang
Bin Jiang (2013) nhà nghiên cứu tại
Đại học Galve Thụy điển cho rằng có thể do lường cái toàn thể hay sự sống trong
một công trình kiến trúc thông qua cái ông gọi là chỉ số Ht-index.
Ht-index đo lường tính chất phức tạp
của cấu trúc fractal (cấu trúc có các thành phần lặp đi lặp lại ở các quy mô
khác nhau) . Chỉ số này xác định sự phân bố mà trong đó có rất nhiều thành phần
nhỏ và có thiểu số các thành phần lớn, hay nói cách khác phân bố của các thành
phần là một phân bố thiên về đuôi (heavy-tailed distribution). Công thức tính
chỉ số Ht-index như sau:
h = m(r) + 1 (4)
Trong đó m là số lượng của các giá
trị trung bình đạt điều kiện trong quá trình phân chia đầu/đuôi (head/tail
break). Chỉ số Ht-index đo lường tính chất đa tỷ lệ của sự phân bố các thành
phần trong cấu trúc. Trong phân bố này có rất nhiều thành phần có kích thước
nhỏ trong khi đó các thành phần có kích thước lớn chiếm số lượng ít hơn. Sự lặp
lại tính chất này có thể thấy ở các quy mô khác nhau. Mức độ lặp lại càng cao
(tức là ht-index càng cao) cấu trúc càng phức tạp và càng có mức độ toàn thể
cao hơn.
Hình 3: Mức độ toàn thể của công trình lâu đài Alhambra được đo lường bằng chỉ số
Ht-index. Có 725 không gian lồi, hay trường trung tâm. Các trường trung tâm
được phần chia thành những trường trung tâm thứ cấp. Mức độ toàn thể của các
trường trung tâm được chỉ định bằng các chấm. Mặt bằng công trình xét toàn cục
có chỉ số Ht-index bằng 6 (theo công thức 4).
Bảng 1: Các kiểu mẫu và thuộc tính tương ứng trong đô thị cổ Hội An
Kết luận
Phẩm chất của Pirsig hay cái toàn
thể của Alexander có nhiều điểm tương đồng với nhau. Cái toàn thể của
Christopher Alexander có thể được thiết lập thông qua ngôn ngữ kiểu mẫu và ngôn
ngữ hình thức. Persig chia ra hai loại phẩm chất: phẩm chất động và phẩm chất
tĩnh. Phẩm chất tĩnh bao gồm các mức từ thấp đến cao: vô cơ, sinh học, xã hội,
và trí tuệ tương ứng với sự tiến hóa của vũ trụ. Ông đề xuất quan điểm siêu
hình rằng cái giá trị hay cái phẩm chất là cái kiến tạo nên thế giới. Người ta
biết đến phẩm chất hoặc giá trị một cách trực tiếp và ngay lập tức thay vì phải
thông qua phân tích như chúng ta vẫn tưởng. Tuy nhiên chúng ta có thể một cách
nào đó tiến gần lại phẩm chất. Ở đây tác giả sử dụng các chỉ số khách quan để
đo lường tính toàn thể trong công trình.
-
Chỉ số sự sống thông qua hai giá trị nhiệt kiến trúc
và sự hài hòa do Salingaros đề xuất
-
Chỉ số Ht-index do Bin Jiang đề xuất
Trong khi hai
chỉ số đầu chỉ đơn thuần biểu hiện hình thức đô thị, thì tác giả cho rằng chỉ
số CI vừa thể hiện được mức độ hài hòa của không gian kiến trúc lại vừa thể
hiện được các hoạt động xã hội bên trong không gian đó.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
Alexander, C. 1978. Timeless way of building. London: Oxford
University Press.
Alexander, C. 2002. The nature of order: The phenomenon of
life, Book 1. Berkeley, CA: Center for Environmental Structure.
Alexander,
C. 2004. The nature of order: The Luminous Ground,Book 4.
Berkeley, CA: Center for Environmental Structure.
Alexander, C.,
Ishikawa, S., Silverstein, M., Jacobson, M., Fiksdahl-King, I., and Angel, S.
1977. A pattern language: towns, buildings, construction. London: Oxford
University Press.
Alexander,
C., Neis, H., Anninou, A. and King, I., 1987. A New Theory of Urban Design. New York, NY: Oxford University
Press.
Anthony
McWatt, & Eric Priezkalns. 2015. 'The role of evolution, time
and order in Pirsig's "Metaphysics of Quality," Quantonics.com.
http://www.quantonics.com/Anthony_McWatts_MoQ_Paper.html.
James, William., 1947. Essays in Radical Empiricism and A Pluralistic
Universe. Longmans, Green And Co.
Jiang, Bin. 2015.
"Wholeness as a hierarchical graph to capture the nature of space". International
Journal of Geographical Information Science 29 (9): 1632-1648. Informa UK
Limited. doi:10.1080/13658816.2015.1038542.
Pirsig, Robert. 1992. Lila:
An Inquiry into Morals.. Boston: Bantam.
Pirsig, Robert M. 1974. Zen
and the art of motorcycle maintenance. New York: Morrow.
Salingaros, N A. 2008.
A theory of architecture. Solingen, Germany: Umbau-Verlag.
Whitehead, A. N. 1979. Process and Reality. 2nd ed.
Boston, MA: Free Press.
[1]
Ta có thể liên tưởng đến “ngón tay” của Phật Thích Ca khi chỉ về mặt trăng. Đừng
nhầm mặt trăng (cái toàn thể/môi trường giàu sự sống) với ngón tay (ngôn ngữ kiểu
mẫu và ngôn ngữ hình thức) của Phật. Chính Pirsig cũng có quan sát tương tự khi
nói về Phẩm chất động và Phẩm chất tĩnh. Phẩm chất động luôn luôn đi trước và
là mục đích của MOQ. Phẩm chất tĩnh là phương tiện để đạt đến Phẩm chất động.



1 nhận xét:
Bài viết rất hay, cảm ơn tác giả
Đăng nhận xét