Tóm tắt chuyên đề
Nguyễn Hồng Ngọc
Chuyên đề này dựa trên công trình nghiên cứu nhan
đề Chủ nghĩa Đô thị Mới và Quy hoạch Mỹ: Mâu thuẫn giữa các nền văn hóa của
giáo sư Emily Talen, trong đó bà nghiên cứu bốn nền văn hóa trong quy hoạch đô
thị Mỹ: Xu hướng tiệm tiến, plan-making, các cộng đồng quy hoạch hoàn thiện và
quy hoạch vùng. Bà khẳng định rằng Chủ nghĩa Đô thị mới là nỗ lực cao nhất nhằm
kết hợp những điểm mạnh và hạn chế các khuyết điểm của tất cả các truyền thống
quy hoạch nêu trên. Phần dưới trình bày tóm tắt các ý chính của chuyên đề.
Đô
thị học và phản đô thị học
Đô
thị học Mỹ là viễn kiến và quá trình tuy tầm nhằm đạt được nơi cư trú tốt nhất
cho con người, quá trình này tuân thủ các nguyên tắc đã được thiết lập, đó là
các nguyên tắc chủ chốt thường xuyên tái xuất hiện và gắn liền với lịch sử đô
thị Mỹ. Các nguyên tắc này mang tính chất chuẩn mực (normative), đó là tính đa
dạng, sự công bằng, tinh thần cộng đồng, tính kết nối, và tính chất quan trọng
của không gian dân sự và không gian công cộng.
Trong
khi đó hiện tượng phản đô thị bao gồm các tính chất hoàn toàn trái ngược: sự
tách biệt, sự phân chia theo giai tầng xã hội (segregation), định hình không
gian đô thị theo các thành phần “khủng” như đường cao tốc hay các khối phố lớn,
hay sự bỏ qua tính chất công bằng, tinh thần của nơi chốn, và không gian công cộng.
Bốn
nền văn hóa
Ở
đây văn hóa quy hoạch được quan niệm gồm các ý tưởng, các quan niệm, các giá trị,
các chiến lược và các phương pháp tiếp cận cho vấn đề quy hoạch các điểm cư trú
cho con người. Là cách nhìn nhận đô thị
học Mỹ từ các góc độ khác nhau. Vấn đề chính trị (tức là vấn đề về quyền lực, vấn
đề ai có được gì – who get what chỉ là một phần của văn hóa quy hoạch).
Bốn
nền văn hóa đô thị Mỹ là bốn cách tiếp cận tới việc kiến tạo thành phố, là bốn
tập hợp bao gồm những lối tư duy và tranh luận về thành phố, phê bình, phản phê
bình, những thành công và thất bại trong thực tế.
a.
Trào
lưu tiệm tiến (incrementalism): Xuất phát từ cơ sở hoặc mang tính cách địa
phương (grassroots), thay đổi với tính cách tiệm tiến.
b.
Trào
lưu plan-making: sử dụng các bản quy hoạch nhằm đạt đến một cấu trúc đô thị tốt.
c.
Trào
lưu cộng đồng quy hoạch hoàn thiện (planned communities): nhấn mạnh và đề cao
các khu định cư hoàn thiện
d.
Trào
lưu quy hoạch vùng (regionalism): coi
thành phố trong mối quan hệ toàn vùng và với môi trường tự nhiên bao quanh nó.
Đóng góp của mỗi nền
văn hóa đô thị học:
a.
Xu
hướng tiệm tiến sử dụng các hoạt động xuất phát từ cộng đồng và cơ sở, các
nguyên tắc về sự đa dạng và trật tự phức tạp (complex order hay organized
complexity theo cách gọi của Jane Jacobs) để thay đổi môi trường đô thị một
cách dần dần.
b.
Những
người tham gia trào lưu plan-making trong thời kỳ Thành phố Đẹp (City
Beautiful) nhấn mạnh tới thiết kế dân sự (civic design), thiết kế và tổ chức khối
tích các tòa nhà trong mối quan hệ với đường phố, quan hệ giữa các yếu tố ba
chiều với các kiểu mẫu hai chiều.
Cũng những người tham
gia trào lưu plan-making nhưng trong giai đoạn Thành phố Hiệu quả tập hợp một
loạt các chủ đề, thường không chú trọng đến quy hoạch tổng thể mà tập trung vào
hiệu quả kinh tế của các dự án.
c.
Trào
lưu cộng đồng quy hoạch hoàn thiện đóng góp bằng lối tư duy tổng thể (holistic)
về hình thức thành phố và hình dung các giải pháp thay thế, các xã hội lý tưởng.
d.
Trào
lưu quy hoạch vùng quan tâm tới việc làm thế nào sắp xếp tất cả các thành phần
đô thị vào trong một khuôn khổ lớn đáp ứng với môi trường.
Sự
khác biệt về mặt trật tự và cường độ
Cường độ: là các ý tưởng, các
nguyên tắc và các chiến lược triển khai nhằm tới các thành phố hiện tồn và các
cách tiếp cận nhằm tạo ra các thành phố mới. Sử dụng tiêu chí cường độ, tác giả
Emily Talen xem xét môi trường đô thị trải từ thành phố đang có đến chưa có, từ
cấu trúc lõi đô thị tới phần thôn dã nhất.
Trật tự: tập trung vào
việc tạo ra các bản quy hoạch và thiết kế cụ thể, thường biểu hiện dưới dạng
quy hoạch tổng thể dưới nhiều hình thức hoặc là dưới dạng các quy hoạch mang
tính ít chuẩn mực (less normative) của các dạng can thiệp khác (sự thay đổi dần
dần hoặc các cải cách chính trị và kinh tế).
Ở đây trật tự là mức độ
can thiệp dưới dạng các bản quy hoạch mang tính chuẩn mực (normative) và mang
tính định hình cao.
Trật tự thấp trong văn
hóa quy hoạch biểu hiện sự kiểm soát xuất phát từ một nguyên nhân ngoài nguyên
nhân là các bản quy hoạch mang tính chuẩn mực. Trật tự thấp nhấn mạnh vào hành động riêng lẻ
hoặc các hành vi khác tồn tại bên ngoài các thiết kế cụ thể và các quy hoạch
không gian. Trật tự thấp quan niệm trật tự là cái gì đó có tính tiềm ẩn, phát
triển ngoài khuôn khổ quản lý hay luật pháp.
Trật tự cao: liên quan tới các quy
hoạch mang tính chuẩn mực thể hiện trật tự định trước (về mặt hình thể). Bản
quy hoạch phản ảnh ý chí (áp đặt) và có tính chất tĩnh tại. Quan niệm rằng một
kiểu trật tự cụ thể nào đó cần phải được áp đặt, trùng với quan niệm về cảm
giác khách quan về sự thật và vẻ đẹp. Trật tự cao ít quan tâm tới môi trường hiện
tồn, ưu tiên cho việc phát triển từ số không (starting from scratch), hình dung
quá trình xây dựng bắt đầu từ một bề mặt trống trơn (a clean slate).
Nhận
xét bốn nền văn hóa từ góc độ lý thuyết grid/group
Như
vậy các nền văn hóa quy hoạch có thể được quan sát từ góc độ lý thuyết
grid/group- cường đô/trật tự:
a.
Trào
lưu tiệm tiến: Nằm trong phần tư cường độ cao, trật tự thấp. Có tính chất- thao
tác với những gì hiện đang có hơn là xuất phát từ một bề mặt trống trơn (a lean
slate) thông qua một quy hoạch định trước.
Trào lưu tiệm tiến quan
tâm tới các điểm định cư đô thị hiện có theo quy mô nhỏ, phát triển lần lần,
chú trọng tới tính chất bảo tồn. Trào lưu này được phản ảnh thông qua các công
trình của Camillo Sitte, William Whyte, Jane Jacobs, và Christopher Alexander.
b.
Trào
lưu plan-making: Nằm ở phần tư cường độ cao, trật tự cao. Trào lưu này quan tâm
tới thành phố hiện hữu, nhấn mạnh tới quy hoạch tổng thể và được định hướng bởi
quy hoạch hình thể. Thể hiện trong các xu hướng Thành phố Đẹp, Thành phố Hiệu
quả, các công trình của Daniel Burnham, John Nolen và Robert Moses.
c.
Trào
lưu các cộng đồng quy hoạch hoàn thiện: Nằm ở phần tư cường đồ thấp, trật tự
cao. Tập hợp các quan niệm không tưởng và các quan niệm liên quan về vị trí
thích hợp của thành phố trong vùng, chức năng đúng đắn của vùng đô thị và sự
hình thành các thành phố, làng mạc hoặc các khu dân cư mới theo những nguyên tắc
quy hoạch cụ thể. Trào lưu này được thể hiện trong các công trình của Ebenezer
Howard, Raymon Unwin, Barry Parker, và John Nolen.
d.
Trào
lưu quy hoạch vùng: Nằm trong phần tư có cường độ yếu, trật tự thấp. Quan niệm
các điểm định cư trong mối quan hệ vùng, xuất phát từ công trình của các nhà địa
lý học theo truyền thống Pháp (Elisse Reclus, Peter Kropokin, Pierre-Joseph Proudhon)
rồi từ đó phát triển thông qua các tác phẩm của Patrick Geddes, MacKaye và
Lewis Mumford, chịu ảnh hưởng của Frederick Law Olmstead và được nối tiếp bởi
Ian McHarg.
Kết
luận
Các
nền văn hóa quy hoạch cần phải học hỏi và bổ sung lẫn nhau nếu muốn tồn tại. Cần
phải kết hợp xu hướng tiệm tiến, phát triển trên quy mô nhỏ với việc cải thiện
trên quy mô lớn, các cộng đồng quy hoạch hoàn thiện và xu hướng quy hoạch vùng.
Chính xu hướng kết hợp này là công việc mà những người ủng hộ Chủ nghĩa Đô thị
Mới đang theo đuổi.
I.
LÝ
THUYẾT GRID/GROUP VÀ ỨNG DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU ĐÔ THỊ HỌC
Hình 2: Sơ đồ miêu tả lý thuyết grid/group
Lý thuyết này được phát triển bởi nhà nhân loại học
Mary Douglas. Lý thuyết này đã được ứng dụng trong nghiên cứu môi trường, hệ thống
giáo dục, phân tích rủi ro, quản lý công v.v…Phương pháp grid/group dùng để xác
định các dạng môi trường xã hội. Mỗi môi trường được hiểu theo nghĩa bao gồm
hai loại kiểm soát: các quy luật bên áp đặt từ bên ngoài – đó là chiều grid, và
các nhóm xã hội gắn kết với nhau- chiều group.
Chiều grid thể hiện khái niệm quyền lực trong một xã
hội. Trong khi đó chiều group thể hiện tình trạng và ranh giới tồn tại giữa một
nhóm xã hội và các nhóm bên ngoài nó. “Chiều grid xác định các quy luật đinh hướng
hành vi của các cá nhân, chừa lại một ít cho tự do cá nhân, cung cấp lối đi định
sẵn với bộ điều khiển từ xa” (Douglas, 1978, p.16). Group xác định hoàn cảnh xã
hội, mức độ mà một cá nhân kết hợp với các nhóm khác.
Lý thuyết grid/group cho phép nhận thức cá nhân
trong hoàn cảnh xã hội và một nền văn hóa mà cá nhân đó thuộc về. Cho phép hiểu
một nền văn hóa hình thành, thay đổi thế nào và trên hết là các giới hạn của sự
thương thảo cũng như chuyển dịch này. Lý thuyết này khi áp dụng vào đô thị học
cho phép tìm ra “những sự phối hợp các niềm tin” tuy khác biệt nhau về mặt văn
hóa (Douglas, 1978, p. 15), nhưng cùng với nhau tạo thành một sự phối hợp các
khái niệm và ý tưởng về đô thị học Mỹ.
Ứng dụng lý thuyết grid/group trong đô thị học: chiều
grid được thay thế bằng cường độ, tức là mức độ tồn tại của thành phố. Đó là vì
các luật lệ áp đặt từ bên ngoài có thể được coi như cường độ tồn tại của đô thị
hình thành nên cơ sở cho sự can thiệp của quy hoạch, vì thế cường độ ở đây có
thể hiều là mức độ đô thị. Chiều group thay bằng trật tự tức là mức độ áp dụng
các giá trị chuẩn mực (tức là quan niệm các thành phố cần phải được tổ chức như
thế nào) cho các điểm cư trú của con người.
Cường
độ
Cường độ: là các ý tưởng, các nguyên tắc và các chiến
lược triển khai nhằm tới các thành phố hiện tồn và các cách tiếp cận nhằm tạo
ra các thành phố mới. Sử dụng tiêu chí cường độ, tác giả xem xét môi trường đô
thị trải từ thành phố đang có đến chưa có, từ cấu trúc lõi đô thị tới phần thôn
dã nhất.
Cường độ cao quan tâm tới việc làm thế nào ăn khớp với,
chỉnh lý, hoặc tạo nên các hiệu chỉnh tới môi trường chủ yếu là đô thị, chứ
không phải là nông thôn. Như vậy gắn liền với các hoạt động bảo tồn, quy hoạch
chỉnh trang, giảm thiểu ùn tắc, phát triển kinh tế, trong khi đó cường độ thấp
lại thích hợp hơn khi nói về mối quan hệ giữa con người với môi trường tự
nhiên.
Trật
tự
Trật tự: tập trung vào việc tạo ra các bản quy hoạch
và thiết kế cụ thể, thường biểu hiện dưới dạng quy hoạch tổng thể dưới nhiều
hình thức hoặc là dưới dạng các quy hoạch mang tính ít chuẩn mực (less
normative) của các dạng can thiệp (sự thay đổi dần dần hoặc các cải cách chính
trị và kinh tế). Ở đây trật tự là mức độ can thiệp dưới dạng các bản quy hoạch
mang tính chuẩn mực (normative) và mang tính định hình cao.
Trật tự thấp trong văn hóa quy hoạch biểu hiện sự kiểm
soát xuất phát từ một nguyên nhân ngoài nguyên nhân là các bản quy hoạch mang
tính chuẩn mực. Trật tự thấp nhấn mạnh
vào hành động riêng lẻ hoặc các hành vi khác tồn tại bên ngoài các thiết kế và
các quy hoạch không gian. Trật tự thấp quan niệm trật tự là cái gì đó có tính
tiềm ẩn, phát triển ngoài khuôn khổ quản lý hay luật pháp.
II.
TRÀO
LƯU TIỆM TIẾN
Trào lưu tiệm tiến (incrementalism): Xuất phát từ cơ
sở hoặc mang tính cách địa phương (grassroots), thay đổi với tính cách tiệm tiến.
Xu hướng tiệm tiến sử dụng các hoạt động xuất phát từ cộng đồng và cơ sở, các
nguyên tắc về sự đa dạng và trật tự phức tạp (complex order hay organized
complexity theo cách gọi của Jane Jacobs) để thay đổi môi trường đô thị một
cách dần dần. Thay đổi theo hướng “hữu cơ” và từ bên dưới lên (tức là từ địa phương,
từ cơ sở).
Trào lưu tiệm tiến nằm trong phần tư cường độ cao,
trật tự thấp. Có tính chất và thao tác với những gì hiện đang có hơn là xuất
phát từ một bề mặt trống trơn (a lean slate) thông qua một quy hoạch định trước.
Trào lưu tiệm tiến quan tâm tới các điểm định cư đô
thị hiện có theo quy mô nhỏ, phát triển lần lần, chú trọng tới tính chất bảo tồn.
Trào lưu này được phản ảnh thông qua các công trình của Camillo Sitte, William
Why, Jane Jacobs, và Christopher Alexander.
Trào lưu này có thể dễ dàng được tiếp nhận về mặt
chính trị vì không yêu cầu thay đổi lớn, phù hợp với lối suy nghĩ theo kiểu
Jeffeson của người Mỹ chú trọng tới đặc điểm địa phương và chính quyền tự trị.
Nó có sức hấp dẫn riêng bởi phương pháp “thay đổi nhiều bởi nhiều bàn tay chung
sức” (“many changes by many hands”).
Trào lưu tiệm tiến mang tính chất đa nguyên, nó coi
sự đa dạng của đô thị như một tài sản. Nó thừa nhận rằng hình thức đô thị được
định hình bởi các lực lượng kinh tế chính trị khác nhau, nhưng nó cũng nhấn mạnh
tới vài trò của các cá nhân trong việc xác định hình thức của thành phố. Những
người theo trào lưu tiệm tiến nhận thức rằng thay đổi là cần thiết và mang tính
tiệm tiến nhưng như Jacobs đề xuất, sẽ sản sinh tính chất sống động.
III. TRÀO LƯU PLAN-MAKING: THÀNH PHỐ ĐẸP
VÀ THÀNH PHỐ HIỆU QUẢ
Đặc điểm chính của trào
lưu này sử dụng các bản quy hoạch để đạt được cấu trúc đô thị tốt và tìm kiếm
giải pháp quy hoạch tổng thể trên quy mô lớn. Đây là trào lưu đặc trưng cho văn
hóa quy hoạch của “tư tưởng vùng đô thị” (Fishman, 2000, p. 82) của Burnham,
Nolen, Adams, Moses. Khác với trào lưu các cộng đồng quy hoạch hoàn thiện, nó
nhắm tới cải thiện thành phố hiện hữu thông qua quy hoạch hình thể.
Những người tham gia
trào lưu plan-making trong thời kỳ Thành phố Đẹp (City Beautiful) nhấn mạnh tới
thiết kế dân sự (civic design), thiết kế và tổ chức khối tích các tòa nhà trong
mối quan hệ với đường phố. Cũng những
người tham gia trào lưu plan-making nhưng trong giai đoạn Thành phố Hiệu quả lại
tập trung vào một loạt các chủ đề, thường không chú trọng đến quy hoạch tổng thể
mà tập trung vào hiệu quả kinh tế của các dự án. Trào lưu này nằm ở phần tư cường
độ cao, trật tự cao. Trào lưu này quan tâm tới thành phố hiện hữu, nhấn mạnh tới
quy hoạch tổng thể và được định hướng bởi quy hoạch hình thể. Thể hiện trong
các xu hướng Thành phố Đẹp, Thành phố Hiệu quả, các công trình của Daniel
Burnham, John Nolen và Robert Moses.
Tóm lại trào lưu
plan-making bao gồm cảm giác về trật tự, vai trò của nó trong việc hỗ trợ tính
đa dạng, vài trò của quy hoạch và các chuyên gia trong các giới hạn cụ thể, khả
năng kết nối các tiện ích đô thị và vẻ đẹp, khả năng hỗ trợ không gian công cộng.
Thành
phố Đẹp (City Beautiful)
Được đánh dấu bằng sự
kiện triển lãm Columbia 1893, giai đoạn này đánh dấu bởi thời kỳ Tiến bộ
(Progressive Era), với phong trào Nữ quyền, sự lưu truyền học thuyết Darwin,
v.v…Sự kiện thứ hai là quy hoạch Chicago của Burnham và Bennett với sự hỗ trợ của
Câu lạc bộ Thương mại Chicago. Burnham tuyên bố “hãy tạo ra những bản quy hoạch
có tầm vóc lớn lao” (make no little plan).
Thành phố Đẹp đặc trưng
bởi trật tự cao và mong muốn dùng vision của quy hoạch để mang lại trật tự cho
thành phố, nhưng nhươc điểm của nó là có thể bị diễn dịch như sự rập khuôn
(conformity), mọi người đều phải có hành vi giống nhau. Trào lưu này còn bị phê
pháp bởi quan niệm có phần mang tính phân biệt chủng tộc với ý tưởng về tầng lớp
trung lưu, da trắng thống trị. Phong cách kiến trúc thời kỳ này là sử dụng kiến
trúc cổ điển, quy hoạch Baroque để truyền tải ý nghĩa về trật tự. Ngoài ra giai
đoạn sau của Thành phố Đẹp là Thành phố Hiệu quả với việc chú trọng đến tính hiệu
quả, còn được gọi là thành phố Khoa học, thành phố Công năng.
Cả thành phố Đẹp và
Thành phố Hiệu quả đều bị phê phán vì mang tính kiểm soát quá mức, chú trọng
quá mức về trật tự, bỏ qua các nhu cầu xã hội khác, quá tập trung vào các bản
quy hoạch.
IV. TRÀO LƯU CỘNG ĐỒNG QUY HOẠCH
HOÀN THIỆN
Trào lưu cộng đồng quy
hoạch hoàn thiện (planned communities): nhấn mạnh và đề cao các khu định cư
hoàn thiện, thiết kế hoàn chỉnh, hình thành trên cơ sở các đơn vị hoàn chỉnh
(self-contained unit). Bao gồm các đơn vị lân bang (còn gọi là các đơn vị ở),
các thị trấn và thành phố tự cung tự cấp. Các đơn vị hoàn chỉnh này thể hiện một
thái độ lạc quan với đô thị. Những người theo trào lưu này cho rằng có thể tạo
dựng một nơi cư trú cho con người mang tính hoàn chỉnh, chỉ một lần duy nhất
(all at once) và như một thực thể khu biệt hoàn toàn.
Nguồn gốc xa xưa của
trào lưu này có thể được tìm thấy trong tác phẩm Nền Cộng hòa của Plato, hoặc Utopia
(Không tưởng) của Thomas More. Sau
này C.B. Purdom đề xuất các điểm định cư cho con người như các thị trấn “phải
được quy hoạch để tạo nên sự thuận tiện, tốt cho sức khỏe, và đẹp để sống và
làm việc”.
Từ lúc đầu các cộng đồng
quy hoạch hoàn thiện không phải là chống đối thành phố, ngược lại chúng đóng một
vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thành phố, đó là tăng cường mật độ đô thị
để hấp dẫn dân cư. Nhận thức được quan hệ của nó với các thành phố hiện có, những
người đi tiên phong trong trào lưu này như Omsted Cha coi vùng đô thị bao gồm cả
thành phố và các khu định cư ngoại ô. Tuy nhiên quan điểm này dần dần bị thay
thế bằng thái độ coi thành phố hiện tại là không thể cải tạo nữa- thay vào đó
là việc ca ngợi khu ngoại ô và từ bỏ các tính chất đô thị. Cả Howard lẫn Unwin
đều nhận thức vai trò và sự khó khăn trong việc cân bằng giữa các yêu cầu của
đô thị và nông thôn, Unwin viết “Vấn đề kết hợp giữa vẻ quyến rũ của thành phố
và nông thôn không phải là chuyện dễ dàng, các nỗ lực thường dẫn đến sự phá hủy
vẻ đẹp của cả hai” (1909, p. 164).
Ưu điểm: hoàn chỉnh
(self-contained), thường có các tầm nhìn đẹp, được xem xét và được thực thi một
cách tổng thể, tôn trọng các chi tiết trong thiết kế đô thị.
Nhược điểm: thiếu sự đa
dạng xã hội (social mix), hướng về bên trong nên thường thiếu vắng sự kết nối với
thành phố hiện tại. Những nhược điểm vừa nêu không biến trào lưu này thành phản
đô thị mà chỉ nhấn mạnh rằng nó không phải là giải pháp tối ưu cho thành phố.
Các ví dụ về cộng đồng
quy hoạch hoàn thiện là: thành phố Vườn của Ebernezer Howard và Riverside bang llinois.
Các khu vực ngoại vi theo định hướng
ô tô cá nhân
Đến những năm 1920 những
khu vực ngoại vi đã phát triển mạnh hơn trung tâm thành phố. Trong khi hầu hết
những khu vực ngoại ô không được quy hoạch đặc trưng cho phần lớn những dự án
phát triển diễn ra vào khoảng những năm 1920, vẫn có một vài ví dụ những vùng
ngoại vi được quy hoạch tương đối cẩn thận. Một trong những ví dụ là Marietmont
ở ngoại ô Cincinnati bang Ohio được John Nolen quy hoạch và được Mary Emery xây
dựng vào 1922. Khu vực này phát triển dành cho công nhân như một giải pháp thay
thế cho các khu tồi tài của thành phố công nghiệp, đây là khu vực đầu tiên phát
triển với ý định rõ ràng thiết kế bãi đỗ xe ô tô và các garage có mái che. Nó
cung cấp một kiểu sử dụng đất hỗn hợp, đảm bảo cho người dân với nhiều mức thu
nhập cùng ở. Khu vực này có phần cây xanh chung, các tiện ích chung của cộng đồng
và khu vực thương mại chung. Hầu hết nhà ở dạng song lập hoặc nhà phố liền kề.
Tuy không phải là loại cộng đồng cùng hợp tác theo kiểu Anh nhưng vẫn mang đặc
điểm chung của tinh thần cộng đồng.
Tuy vậy vào đầu những
năm 1920 hầu hết các khu vực đã trở thành chỉ phục vụ bởi ô tô, được tiếp thị mạnh
bởi các nhà phát triển bất động sản những người chỉ quan tâm đến lợi nhuận hoặc
danh tiếng. Tuy vậy không phải không có các vùng ngoại vi được quy hoạch và thiết
kế tốt chẳng hạn như Highland Park ở ngoại ô thành phố Dallas, hoặc Coral Gable
ngoại ô Miami, hoặc Country Club District ngoại ô Kansas City. Trong đó Country
Club District đáng được để ý nhất, khu vực này kết hợp các khu thương mại, có đường
phố kết nối tốt, chú ý đến đặc điểm địa hình, bao gồm những kiểu nhà ở khác
nhau, 6000 căn hộ và 160 nhà chung cự cao cấp từ những nhà chỉ sử dụng thang bộ
đến các kiểu chung cư cao từ 10 đến 12 tầng. Không gian công cộng được quy hoạch
tốt. Tất cả tạo nên một cảm giác như trong công viên, rất nhiều ánh sang và
không gian chung cho cộng đồng. Nhược điểm: trong hợp đồng có những điều khoản
mang tính phân biệt chủng tộc, đây cũng là hiện tượng không hiếm gặp trong các
cộng đồng quy hoạch Mỹ.
Thành
phố vườn và ngoại ô vườn
Thành phố vườn có một mục
đích xã hội khiến nó riêng biệt so với các loại cộng đồng quy hoạch hoàn chỉnh
khác, đó là mong muốn cải thiện điều kiện sống cho tầng lớp lao động và người
nghèo. Các cộng đồng được xây dựng trong khoảng những năm 1910 đến 1920 tuân thủ
mô hình thành phố vườn của Ebenezer Howard. Ba thành phố vườn được xây dựng
trong thời kỳ đầu là Letchworth, Welwyn Garden City và Wythenshawe.
Nguồn gốc thẩm mỹ của
thành phố vườn dựa trên các nguyên tắc thẩm mỹ của Ruskin, sau đó được Raymond
Unwin và Barry Parker thực hiện trong thực tế. Tư tưởng chung là sự kết hợp lý
tưởng xã hội chủ nghĩa (socialism) với thiết kế, là tính thần hợp tác của phường
thợ thủ công nhằm xây dựng nên một giải pháp thay thế cho thành phố công nghiệp,
cung cấp một nơi chốn có đầy đủ các dịch vụ, sự tiếp cận dễ dàng tới thiên
nhiên và “một loạt các phương tiện cho cuộc sống xã hội” (Lang, 1996, p. 123).
Thành phố vườn đầu tiên
ở Mỹ là Forest Hills Garderns dành cho tầng lớp công nhân bởi hội từ thiện
Russell Sage Foundation. Diện tích 142 mẫu anh được thiết kế bởi Frederick Law
Olmstead và Grosvernor Atterbury tại Queens, một khu vực thuộc thành phố New
York. Cũng chính tại đây Clarence Perry đã hình thành ý tưởng về đơn vị lân
bang láng giếng (neighborhood unit) khi ông là một cư dân của nó. Nhà ở được sắp
xếp thành nhóm thay vì xếp theo khối phố (block). Đường phố theo dạng lưới
nhưng hơi uốn cong, tương phản với mạng lưới kẻ ô của khu vực Manhattan gần đó.
Các cộng đồng phát triển
sau này phần lớn đều bỏ qua các đặc điểm thiết yếu của thành phố vườn để trở thành
ngoại ô vườn: trở thành cộng đồng chỉ có một kiểu sử dụng đất (thường là đất ở),
loại bỏ nhà ở xã hội và nhà ở cho người nghèo, sử dụng các khối phố lớn, tách
biệt hoàn toàn giao thông cơ giới và người đi bộ. Như vậy vào giữa thế kỷ 20
các cộng đồng quy hoạch hoàn chỉnh trở thành các khu vực ngoại vi phát triển
tràn lan không theo quy hoạch (unplanned suburban sprawl), phản ảnh một sự suy
thoái các nguyên tắc của thành phố vườn. Hai thành phố điển hình trong thời kỳ
này là Reston bang Virginia và Columbia bang Maryland. Cả hai thành phố đều
theo đuổi các mục đích xã hội: đa dạng, không tách biệt, là nơi ở của một nhóm
dân cư đa dạng về chủng tộc, thu nhập và tuổi tác, có sử dụng đất hỗn hợp, công
việc, nơi ở và cửa hàng đều trong các khoảng cách gần, dễ tiếp cận. Mặc dù tất
cả đều có những thành phần như các cộng đồng quy hoạch hoàn thiện mang tính lý
tưởng thời trước Chiến tranh Thế giới thứ II nhưng môi trường xã hội đã đổi
khác. Hai thành phố thời kỳ này là sản phẩm của thiết kế và logic không gian của
chủ nghĩa hiện đại, chúng được đặc trưng bởi sự tách biệt (separation) và tính
chất tầng bậc hơn là một cấu trúc đô thị quy mô nhỏ (fine-grained urbanism). Các
công trình kiến trúc như được xây cùng một thời điểm, các thành phần thương mại
dựa trên nền tảng giao thông bằng xe ô tô cá nhân, cuối cùng chuyển biến thành
các dải thương mại theo định hướng ô tô (auto-oriented strip malls) vào những
năm 1990. Jane Jacobs cho rằng thể loại này là vi phạm bản chất của thành phố
“các thành phố rất xinh xắn nếu bạn trở nên dễ bảo và không có kế hoạch nào cho
riêng mình” (1966, p. 101).
Đơn vị lân bang láng giềng:
Perry phân tích đơn vị lân bang dựa trên thực tế cộng đồng quy hoạch hoàn thiện
ở Forest Hills Gardens. Có năm yếu tố cho thiết kế một khu vực lân bang (còn gọi
là đơn vị ở): đường biên rõ ràng, mạng lưới đường giao thông có kết nối tốt
khuyến khích giao thông nội bộ, các loại sử dụng đất hỗ trợ chức năng cộng đồng,
một khu vực trung tâm với các tiện ích cho cộng đồng, các công viên và đất dành
cho giải trí của khu lân bang.
Sự
mâu thuẫn
Trong khi một số người
cho rằng các cộng đồng quy hoạch là hiện thân của tinh thần công dân, công
năng, vẻ đẹp và nhận thức đúng đắn (common sense), nhiều người lại cho rằng
chúng thể hiện một thái độ lẩn tránh (escapist), mang tính loại trừ, và nhu cầu
kiểm soát. Nguồn gốc của các cộng đồng quy hoạch ở chỗ nó dựa vào một văn hóa
có cường độ thấp nhưng lại có trật tự cao. Các cộng đồng quy hoạch thường bắt đầu
với một kế hoạch cho mặt bằng trống trơn, một thứ tabula rasa. Bất kỳ một nỗ lực nào bào gồm việc bố cục hình thức đô
thị theo các nguyên tắc hình học trừu tượng đều có thể diễn dịch như một nố lực
làm đơn giản hóa quá mức bản chất thực sự của thành phố.
Một trong những vấn đề
cơ bản của thành phố vườn là thường bị “nhái” thành các ngoại ô vườn, nơi bản
chất chỉnh thể, hoàn thiện của một cộng đồng không bao giờ được thực hiện đầy đủ,
thay vào đó là một ngoại ô vườn kết nối với thành phố bằng giao thông cá nhân. Vấn
đề chủ yếu đối với các cộng đồng quy hoạch là việc áp dụng một cách không đầy đủ
khái niệm cộng đồng quy hoạch trong thực tế.
Kiến trúc và cảnh quan
thường sử dụng phong cách Phục hưng hoặc Gothic thời kỳ trung đại. Cảnh quan
thường dùng là nghệ thuật vườn Anh với các tầm nhìn đẹp và lối đi quanh co.
Stilgoe ghi nhận rằng các cộng đồng này không những “xinh xắn như một bức
tranh…Nó chính là một bức tranh
(1988, p. 232).
Mâu thuẫn nổi bật nhất
của các cộng đồng quy hoạch là tính chất loại trừ về mặt xã hội (social
exclusivity). Theo một khảo sát năm 1934, ở Radburn cho thấy không hề có các hộ
công nhân cổ xanh sống, còn Forest Hill Garden thì là một cộng đồng gồm toàn
người da trắng, trung lưu và theo Thanh giáo. Hình thành một vấn đề xã hội nổi
cộm trong các thành phố Mỹ là vấn đề loại bỏ người thu nhập thấp
(gentrification).
Các cộng đồng quy hoạch
hoàn thiện yêu cầu phải có sự cam kết lâu dài tới nhu cầu của cộng đồng, thường
nhu cầu này vượt quá mối quan tâm ngắn hạn của nhà đầu tư và nhà phát triển bất
động sản. Vì thế các cộng đồng quy hoạch trở nên khó sinh lợi cũng như khó có
khả năng đảm bảo nhà ở xã hội. Các ví dụ: Letchworth, Reston, hoặc Kenlands
(xây dựng theo phương châm của CNĐTM) đều yêu cần vốn rất lớn cho việc mua đất
và cơ sở hạ tầng.
Trào lưu cộng đồng quy
hoạch hoàn thiện đóng góp vào đô thị học bằng lối tư duy tổng thể (holistic) về
hình thức thành phố và hình dung các giải pháp thay thế, các xã hội lý tưởng.
V.
TRÀO
LƯU QUY HOẠCH VÙNG
Trào lưu quy hoạch vùng
(regionalism): coi thành phố trong mối
quan hệ toàn vùng và với môi trường tự nhiên bao quanh nó. Trào lưu này quan
tâm tới việc làm thế nào sắp xếp tất cả các thành phần đô thị vào trong một
khuôn khổ lớn đáp ứng với môi trường. Quan niệm của trào lưu quy hoạch vùng coi
quy hoạch là quá trình hiểu biết những hạn chế được đặt ra bởi tự nhiên.
Trào lưu quy hoạch
vùng: Nằm trong phần tư có cường độ yếu, trật tự thấp. Quan niệm các điểm định
cư trong mối quan hệ vùng, xuất phát từ công trình của các nhà địa lý học theo
truyền thống Pháp (Elisse Reclus, Peter Kropokin, Pierre-Joseph Proudhon) rồi từ
đó phát triển thông qua các tác phẩm của Patrick Geddes, MacKaye và Lewis
Mumford, chịu ảnh hưởng của Frederick Law Olmstead và được nối tiếp bởi Ian
McHarg.
Trào lưu quy hoạch vùng
được xác định chủ yếu thông qua hoạt động của Hiệp hội Quy hoạch vùng Mỹ
(Regional Planning Association of America- RPAA). Quan điểm quy hoạch vùng Mỹ
xuất phát từ các công trình của Geddes và RPAA. Lubove cho rằng trào lưu này “một
phần mang đặc tính bí ẩn và khát vọng đầy chất thơ, một phần mang tính cách mạng
và lật đổ, một phần khác là sự đáp ứng thực tế tới khả năng và thách thức của
công nghệ mới” (1963, p.83)
Hai đặc điểm cơ bản của
trào lưu quy hoạch vùng là: sự từ chối các vùng đô thị lớn và cực lớn
(metropolis) vì vậy nó khác biệt với quan điểm của những người theo
plan-making. Thứ hai là sự liên kết chặt chẽ với quan điểm sinh thái vùng. Những
người theo quan điểm quy hoạch vùng ít chú trọng tới hình thức cụ thể bên trong
của đô thị mà nhấn mạnh tới vị trí của đô thị trong mối quan hệ tự nhiên và
liên kết vùng.
Một trong những nguyên
tắc mà Geddes và những nhà quy hoạch vùng chia sẻ là khái niệm sự hợp tác. Họ
hình dung một thế giới được định hướng không phải bởi nguyên tắc phân công lạo
động kiểu Taylor mà bởi cảm nhận chung về công bằng xã hội, tương trợ, và tinh
thần cộng đồng. Kiểu tư duy này liên quan đến những gì mà nhà địa lý Pháp
Reclus viết đến, chẳng hạn sự tương trợ lẫn nhau trong các polis của Hy lạp và thành phố trung đại.
Quan điểm chung của những
người theo quy hoạch vùng là quá trình sản xuất phải có quy mô nhân văn (human
scale production) và sự phi tập trung hóa. Chẳng hạn quan điểm của Geddes,
Reclus, Kropotkin không phải thực hiện tiến bộ xã hội bằng lật đổ mà bằng cách
thiết lập các cộng đồng nhỏ dựa trên sự đồng thuận. Thay đổi mang tính tích cực
được thực hiện thông qua hành động của hàng triệu cá nhân (Hall, 2002). Như vậy
trào lưu này cũng có nét liên quan đến trào lưu tiệm tiến.
VI. CHỦ NGHĨA ĐÔ THỊ MỚI NHƯ NỐ LỰC
CAO NHẤT TRONG VIỆC KẾT HỢP BỐN TRƯỜNG PHÁI QUY HOẠCH TRÊN
Các trào lưu đô thị
học Mỹ thường bao trùm, bổ sung và có cả mâu thuẫn nhau. Mỗi một nền văn hóa có cách biểu hiện
khác nhau mức độ đa dạng. Ví dụ với các văn hóa quy hoạch có trật
tự thấp đó là sự ghi nhận và chấp nhận tính đa dạng. Đối với các
văn hóa quy hoạch có trật tự cao đó là vấn để sử dụng các bản quy
hoạch và thiết kế để khuyến khích tính đa dạng.
Các văn hóa quy
hoạch này cũng có đặc điểm riêng của sự bao trùm (overlap). Trào lưu
quy hoạch vùng kết nối với trào lưu tiệm tiến ở chỗ cả hai cố gắng
tiến hành thay đổi thông qua hành động của các cá nhân (trường hợp
quy hoạch vùng là thông qua một chính quyền vùng mạnh). Trào lưu
plan-making và các cộng đồng quy hoạch chung nhau ở chỗ cả hai tin
tưởng vào quyền lực của hình ảnh thị giác và sự rõ ràng của bản
quy hoạch.
Sự mâu thuẫn thường
nảy sinh qua đường chéo của sơ đồ. Những người theo xu hướng quy hoạch
vùng và plan-making cạnh tranh với nhau thông qua vấn đề về sự thay đổi
mang tính cấu trúc với sự thay đổi mang tính thực dụng, còn những
người theo xu hướng tiệm tiến và các cộng đồng quy hoạch hoàn thiện
thường tranh luận với nhau về khái niệm trật tự và sự đa dạng.
Hình 3: Nguồn gốc của những mâu thuẫn về văn hóa: trật tự đối lại sự đa
dạng; thay đổi mang tính cấu trúc đối lại với thay đổi mang tính
thực dụng
Những thay đổi là
cần thiết cho mỗi một trào lưu. Cần phải bổ sung một số điểm, bỏ
bớt những gì lạc hậu, hay thay đổi nhiều khái niệm. Chẳng hạn các
cộng đồng hoàn thiện cần phải chỉnh sửa theo xu hướng không bao gồm mọi
mặt của cuộc sống (vd: công nghiệp) trong khoảng cách đi bộ. Trào lưu
quy hoạch vùng phải từ bỏ yêu cầu thay đổi mang tính cấu trúc đối
với hệ thống kinh tế chính trị hiện hành. Trào lưu tiệm tiến vẫn
yên ổn với những đề xuất thay đổi quy mô nhỏ, nhưng khá năng đáp ứng
với bất công xã hội của nó khá yếu. Những người theo xu hướng
plan-making phải từ bỏ ý tưởng quy hoạch tổng thể của họ và tập
trung vào quá trình và phương pháp quy hoạch có sự tham dự của quần
chúng.
Để
đảm bảo không bị lạc hậu hoặc suy thoái, mỗi nền văn hóa quy hoạch
đã nêu cần phải tìm kiếm những điểm mạnh của các nền văn hóa khác,
các trào lưu có cường độ cao học tập những trào lưu có cường độ
thấp, trật tự cao học tập từ trật tự thấp và ngược lại. Đó là
cách cần thiết để không rơi vào tình huống của các xu hướng phản đô
thị học.
Khi đánh giá về Chủ
nghĩa Đô thị Mới (New Urbanism) người ta thường gắn kết nó với xu
hướng của các cộng đồng quy hoạch hoàn thiện, tuy nhiên có những yếu
tố giao thoa của Chủ nghĩa Đô thị Mới (CNĐTM) với các nền văn hóa khác.
Chẳng hạn những đề xuất mang tính quy hoạch vùng giống như những gì
mà MacKaye bàn thảo, xu hướng nhấn mạnh sự đa dạng quy mô nhỏ và thay
đổi tiệm tiến trong CNĐTM giống với những gì mà Jacobs mong muốn. Tầm
quan trọng của không gian dân sự thì không khác gì những điều mà
Hegemann và Peets đề cập. Mặc dù ta có thể cho là Thành phố Đẹp đã
lỗi thời, nhưng ý tưởng trung tâm của nó về ý nghĩa của phối cảnh,
các điểm cao, các biểu thị thị giác (thể hiện sự tự hào mang tính
dân sự- civic pride) vẫn còn có giá trị.
Trong khi đó sự
thiếu kết nối với các nền văn hóa quy hoạch khác, xu hướng bỏ qua
các ý tưởng đô thị học cũ và tiến lên với các ý tưởng mới, mang
tính kỹ trị chính là nhược điểm của đô thị học Mỹ. Hay thậm chí
một cảm giác chung là các nhà quy hoạch thường không nhận định được
thế nào là một đô thị học tốt, hoặc xấu, rằng kinh nghiệm quy hoạch
của quá khứ chẳng hơn gì một bức phông thú vị nhưng mang tính trang
trí.
Ở Mỹ các nhà quy
hoạch và thiết kế đô thị thường cố gắng làm mọi cách để ý kiến
người dân có thể được lắng nghe. Tuy nhiên có xu hướng các nhà quy
hoạch thường đóng vai trò là người cung cấp thông tin, thông báo cho
người dân một cách khách quan các lựa chọn đã đẩy họ vào thế không
thể nói được đâu là một cấu trúc đô thị tốt và đâu là một cấu
trúc đô thị xấu.
Thêm vào đó là xu
hướng phủ định tất cả những gì đang có. Các dự án làm đẹp cải
tạo các không gian mang tính dân sự bị dè bỉu như là thứ gì đó sáo
mòn và không có nhiều ý nghĩa. Trào lưu Thành phố Đẹp bị coi là mang
tính áp bức của tầng lớp tinh hoa. Thành phố Hiệu quả bị coi như
quá kỹ trị. Có thể các phê bình đó có giá trị nhưng phải biết
được trong mỗi một nền văn hóa có các mặt tích cực.
CNĐTM khơi lại mối
quan tâm về quy hoạch không gian vật chất sau thời kỳ các nhà quy
hoạch chỉ chú trọng tới các mặt quản lý, sự vận hành, và quá
trình truyền thông. Một trong những khuyết điểm chính của đô thị học
Mỹ là sự thất bại trong việc duy trì một tập hợp các ý tưởng trong
quá trình thực thi nó. Các ý tưởng thường bị xuyên tạc, bị bóp méo
và tha hóa đi, bị suy yếu bởi điều kiện tài chính, hoặc bị áp dụng
một cách không thích hợp. Peter Hall (2002) cho rằng sự chuyển dịch
các ý tưởng trong không gian và thời gian có thể dẫn đến thảm họa.
CNĐTM đang đi một con đường khác bằng cách trở nên mềm dẻo hơn và ủng
hộ các ý tưởng- tiến lên cả về mặt lý thuyết lẫn thực tiễn. Nhưng
CNĐTM cũng có khả năng thất bại không chỉ bởi các ý tưởng chứa đựng
sai lầm mang tính bản chất mà còn bởi vì chúng chưa phát triển đầy
đủ. Biết được điều đó khiến những người theo CNĐTM hiểu khi nào và
tại đâu một cách tiếp cận có thể dùng được.
Một trong những bài
học quan trọng nhất theo Emily Talen là cần phải học hỏi từ quá khứ
(lịch sử đô thị học Mỹ), kiên định với các giá trị của đô thị học
từ đó ta có thể sàng lọc lại những thành công của đô thị học.
Hình 4: Tình trạng hiện tại của các văn hóa đô thị học
Quá trình biến
chuyển luôn luôn xảy ra trong đô thị học Mỹ. Như trên hình xxx đã chỉ rõ, đô thị học tiệm
tiến vẫn duy trì mối quan tâm tới phát triển trên quy mô nhỏ và vẫn
được coi như một cách tiếp cận phù hợp. Những người ủng hộ nó là
các nhà hoạt động vì cộng đồng, những người theo xu hướng đô thị
học thường ngày (everday urbanism- xu hướng đô thị chấp nhận tất cả
những cái khác biệt thậm chí đối chọi được biết đến nhiều nhất
trong Learning from Las Vegas của Robert
Venturi), những người theo Alexander và Jacobs, cũng như tất cả những ai
quan tâm tới việc loại bỏ các quy hoạch mang tính áp đặt từ trên
xuống. Trào lưu plan-making trở thành quy hoạch quan liêu, chú trọng
tới luật lệ, quy hoạch với sự tham dự của nhà nước và tư nhân
(private-public partnership). Trào lưu các cộng đồng quy hoạch hoàn
thiện nay trở thành các dự án có sự tham gia của nhà nước và tư
nhân đảm bảo sự phát triển hỗn hợp dưới nhiều hình thức: khu dân cư
với các dịch vụ và bán lẻ, các dự án phát triển theo định hướng
giao thông công cộng (transit-oriented development). Xu hướng quy hoạch
vùng nay trở thành xu hướng quy hoạch môi trường và thiết kế sinh
thái.
CNĐTM nhận thấy rằng
cả bốn văn hóa đô thị học đều chứa đựng các giá trị và cần phải
được kết hợp vào để thúc đẩy đô thị học phát triển. Chẳng hạn như
mục tiêu bao quát của quy hoạch môi trường cần đảm bảo, trong khi
khuyến khích phát triển sử dụng đất hỗn hợp trong khuôn khổ quy
hoạch vùng. Các giá trị khác như sự đa dạng trên quy mô nhỏ của đô
thị, tính chất tiệm tiến vẫn là các giá trị được tôn trọng nhất.
Một nền văn hóa
thất bại khi nó không có khả năng kết hợp với văn hóa đô thị học
khác hoặc vươn ra ngoài bản thân nó. Như
vậy bất cứ khi nào tồn tại xu hướng đơn văn hóa, từ chối mối liên
quan và xác định chỉ có một cách duy nhất tồn tại, ở đó có sự
thất bại
Khi
một xã hội có nhiều phương cách khác nhau để đáp ứng với một hoàn
cảnh, xã hội đó có nhiều cơ hội để tồn tại.
Ở đâu có sự cân bằng giữa các nền
văn hóa, ở đó ít có khả năng bị tổn thương với những sự kiện mới
và những thay đổi không lường trước được bởi lẽ có nhiều lựa chọn
để thực hiện. Hệ thống tốt nhất, hệ thống định cư của con người
phải là hệ thống mở cho tính đa dạng trong việc tạo nên cấu trúc đô
thị.
Giả thiết của Emily
Talen với đô thị học coi sự thành công và thất bại của bất kỳ một nền
văn hóa nào là ở khả năng nghĩ về mối liên hệ của nó với các nền
văn hóa khác. Khả năng tránh vị trí trong đô thị học ở thế hoặc là thế
này/ hoặc là thế kia (either/or position).
CNĐTM cố gắng xúc
tiến khái niệm tich hợp, nó cố gắng thương lượng trật tự mang tính
tiệm tiến và viễn kiến (visionary)- có thể thực hiện được bằng các
luật lệ nhưng vẫn cho phép sự biểu hiện của các nhân, mang tính trình
tự /kế thừa nhung vẫn dưới tầm ảnh hưởng của quy hoạch tổng thể. Hy
vọng của CNĐTM là ứng dụng luật đô thị và quy hoạch (tức là theo kiểu
plan- making) theo kiểu khuyến khích sự đa dạng thay vì bóp ngẹt nó. Có
rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ tập trung vào một chiến lược là
không đủ.
Tầm quan trọng của tư
duy không chuyên sâu (tức là tư duy tổng quát- generalist thinking). Mumford
viết: “Vấn đề nhà ở, vấn đề công nghiệp, vấn đề giao thông, và vấn
đề sử dụng đất không thể được giải quyết từng lần bởi các chuyên
gia riêng biệt, tư duy và hành động trong khoảng trống thiếu tinh thần dân
sự”. Chính vì thế có một phê phán thường lặp trong quy hoạch, đó là
nhu cầu cần phải tư duy, quy hoạch và hành động theo cách liên kết các
sự kiện. Tuy vậy đây vẫn là mục tiêu chưa hoàn toàn đạt được.
Hai chủ đề lớn trong đô
thị học Mỹ: sự liên kết giữa trật tự và sự đa dạng, và quan hệ giữa thay đổi
mang tính cấu trúc và thay đổi mang tính thực dụng.
Trật
tự và sự đa dạng
Vấn đề chủ yếu là khả
năng kết hợp cái trật tự trên quy mô lớn với cái đa dạng, mang tính chất tiệm
tiến ở quy mô nhỏ. Cần phải bồi bổ sự tôn trọng tới tính chất phức hợp và quy
mô nhỏ cũng như cảm giác trật tự cho cấu trúc đô thị. Quan hệ này thường thể hiện
qua những tranh luận về mức độ cho phép của các bản quy hoạch đối chọi lại sự
phát triển mang tính hữu cơ một cách tự phát, thành phố của các Kiểu cách Hoành
tráng đối chọi lại thành phố trung đại phức tạp và tinh vi.
Thể hiện qua việc không có khả năng kết hợp các dự án công trên
quy mô lớn (ví dụ quy hoạch mạng lưới tàu điện) với các quá trình tiệm tiến nhằm
đạt đến sự phong phú đa dạng thường xuyên là gốc rễ cho các thất bại của cấu
trúc đô thị. Có thể thấy rằng tính chất tiệm tiến là cần thiết nhưng rõ ràng vấn
đề đô thị học phải cũng là vấn đề về quy mô. Chẳng hạn với việc quy hoạch hệ thống
tàu điện thì quy hoạch mạng lưới đường không thể chỉ dựa vào sự tham gia của cộng
đồng. Do đó khi nào và tại đâu trật tự hoặc sự đa dạng cần phải ưu tiên lựa chọn
là vấn đề căn bản cho sự thành công của một cấu trúc đô thị. Với một cộng đồng
được quy hoạch hoàn thiện cần phải có trật tự dưới hình thức bản quy hoạch và
luật thực thi (implementation code – tức là luật xây dựng), trong khi đó áp dụng
xu thế tiệm tiến là cần thiết để điền đầy vào khuôn khổ đã được làm cho có trật
tự. Chẳng hạn những đề xuất gần đây về việc kết hợp luật generative vào trong
khuôn khô của Luật quy hoạch thông minh phản ảnh xu thế đó.
Còn đối với quy hoạch
phục hồi (chỉnh trang) một khu vực đã có đầy đủ tính phức hợp và đa dạng như
trung tâm thành phố, trật tự nên được nhận thức như là vấn đề về sự làm rõ nét (clarification), đó chính là chủ
đề mà Jane Jacobs nói tới khi bà cho rằng nhiệm vụ của nhà quy hoạch (nhà đô thị
học) là làm rõ cái trật tự tiềm ẩn ẩn
dưới các kiểu mẫu của sự đa dạng.
Sự
thay đổi mang tính cấu trúc và sự thay đổi mang tính thực dụng
Sự thay đổi mang tính cấu
trúc hay chỉ là sự thay đổi mang tính thực dụng là chủ đề thứ hai của các mâu
thuẫn giữa những nền văn hóa quy hoạch.
Sự tương phản của những
đề xuất thay đổi này thể hiện mối quan hệ căng thẳng giữa RPAA- Hiệp hội quy hoạch
vùng Mỹ, và RPA- Hiện hội quy hoạch vùng. Liệu có thể kết hợp đô thị học của Burnham
và Adam (cùng với mối quan tâm về thương mại của họ) với đô thị học của Geddes,
Mumford và MacKaye. Mặc dù đô thị học Mỹ ít có khả năng tuyên bố theo xu thế
bài doanh nghiệp (anti-corporatism) nhưng cũng không có vẻ nó chịu bó buộc
trong khuôn khổ của hoạt đông quy hoạch hiện tại. Nó cũng không chống đối lại
trật tự kinh tế chính trị hiện hành nhưng cũng không chịu đầu hàng trươc các sức
mạnh làm tha hóa nó.
Theo Emily Talen việc hóa
giải mâu thuẫn giữa thay đổi mang tính cấu trúc với thay đổi thực dụng không phải
là chuyện dễ. Một cách để biết có cần phải tiến hành những thay đổi triệt để
mang tính cấu trúc hay không chính là xem xét xem tại sao các trào lưu đô thị học
không chịu thay đổi chịu thất bại. CNĐTM đề xuất một loạt các trở ngại để khảo
sát sự thay đổi cần thiết này, một số được nêu ra dưới đây: trở ngại cho việc tạo
dựng các cộng đồng theo định hướng đi bộ, phát triển gọn và sử dụng đất hỗn hợp,
các luật môi trường như hành lang xanh cản trở tính kết nối của đô thị, luật đô
thị hạn chế sử dụng đất hỗn hợp, và các điều luật tồi về mặt đô thị như quy định
khoảng lùi, bãi đỗ xe quá lớn, thái độ của cộng đồng từ chối sự liên kết đô thị,
sử dụng đất hỗn hơp, mật độ cao, nhà ở xã hội, những cộng đồng biệt lập, tư
nhân hóa các hạ tầng xã hội và tiện ích công, số lượng thay vì chất lượng, các
tiêu chuẩn xây dựng bỏ qua hoàn cảnh đô thị, quá chú trọng đến hạ tầng xây dựng,
hoặc coi thường giao thông cộng cộng, v.v…
Như vậy chủ đề thường
xuyên trở đi trở lại trong đô thị học Mỹ vấn là làm thế nào dung hòa giữa trật
tự và sự đa dạng, giữa thay đổi không tưởng mang tính cấu trúc của hệ thống
chính trị kinh tế với những thay đổi dần dần mang tính thực tiễn. Hóa giải các mối
căng thẳng này chính là cơ hội cho đô thị học Mỹ.
3 nhận xét:
buổi chuyên đề với nội dung này của Anh đã thành công. Nó gây không ít bỡ ngỡ ngây thơ cho người tham giự. Hy vọng sớm có một "chuyên đề" kế tiếp với cấp độ cao trào hơn.
Thanks Sơn for your comment. Mình nghĩ quan trọng là xới lên được vấn đề cho mọi người thấy. Chuyên đề tới sẽ đưa ra một cách nhìn nhận mới về bản sắc đô thị và kiến trúc Việt.
Thầy ơi.. thật sự là những bài viết của thầy lúc đầu đọc chẳng hiểu gì..nhưng khi đọc và ngẫm từng chữ thì mới cảm nhận được . thanks !
Đăng nhận xét