Thứ Hai, 21 tháng 8, 2017

ĐO LƯỜNG CÁI TOÀN THỂ TRONG CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC




 Nguyễn Hồng Ngọc
1. Cái toàn thể tạo nên bởi ngôn ngữ kiểu mẫu và ngôn ngữ hình thức

            Tác phẩm Một ngôn ngữ kiểu mẫu do Christopher Alexander và cộng sự viết đã  trở thành tác phẩm kinh điển trong kiến trúc và quy hoạch đô thị. Ngôn ngữ kiểu mẫu sử dụng các kiểu mẫu, được tổ chức trong một hệ thống nửa tầng bậc, nhằm đưa ra các giải pháp không gian và xã hội cho môi trường xây dựng. Theo Alexander một ngôn ngữ kiểu mẫu có các đặc điểm sau: i) khả năng phối hợp vô tận; ii) Khả năng thích ứng với điều kiện địa phương; iii) mỗi ngôn ngữ kiểu mẫu phản ảnh kiến thức chung về môi trường xây dựng mà cộng đồng cùng chia sẻ.
            Trong tác phẩm đồ sộ Về bản chất của trật tự (The Nature of Order) Alexander (2002; 2004) nhận thấy rằng để thiết kế kiến trúc và đô thị thành công ngoài ngôn ngữ kiểu mẫu vốn giải quyết vấn đề xã hội và không gian của công trình và đô thị thì chúng ta cần phải có ngôn ngữ hình thức. Ngôn ngữ hình thức là tập hợp các quy tắc hình học mà một công trình xây dựng phải truyền tải trực tiếp những nội dung thông tin và cảm xúc của nó tới con người (Salingaros 2008). Cả hai loại ngôn ngữ này phải làm việc cùng với nhau và cùng tạo ra một cái toàn thể (the wholeness) cho cấu trúc đô thị hoặc công trình. Khái niệm trung tâm của quá trình xây dựng phát triển dần dần theo quan niệm của Alexander chính là cái toàn thể. Cũng trong cuốn Về bản chất của trật tự, Alexander ghi nhận rằng khái niệm cái toàn thể của ông có nhiều mức độ tương đồng với Phẩm chất (Quality) của Robert Pirsig.
           
2. Phẩm chất và cái toàn thể
            Trong qúa trình phát triển dần dần nơi mà sự tiến hóa mang tính quá trình (process-oriented evolution) hay sự “phát triển hữu cơ” xảy ra trong môi trường đô thị, Alexander phát hiện sự nổi lên của một phẩm chất gọi là “toàn thể” (Alexander et al. 1987). Alexander nhấn mạnh tầm quan trọng của quá trình trong đó các thành viên tham gia tăng cường tính toàn thể của môi trường xây dựng một cách tập thể tuần tự. Alexander cũng giống như Pirsig đều không đưa ra định nghĩa nào về cái toàn thể vì cho rằng không định nghĩa nào có thể nắm bắt lấy Toàn thể và dùng lời nói chỉ làm cho chúng ta đi xa khỏi nhận thức về toàn thể.  Tuy nhiên chúng ta có thể hiểu thô sơ rằng Toàn thể theo kiểu của Alexander ngầm định một mối liên hệ toàn cục giữa một cấu trúc và các thực thể khác trong khi duy trì một tình trạng trật tự cao và gắn bó bản thân bên trong cấu trúc (Alexander 2002).
            Khái niệm Phẩm chất của Robert Pirsig lần đầu tiên xuất hiện trong tác phẩm triết học viết dưới dạng tiểu thuyết, Thiền và Nghệ thuật bảo trì xe máy (Zen and the Art of Motorcycle Maintenance) đây là tác phẩm triết học thuộc loại best-selling với hơn 5 triệu bản sách được bán hết và được dịch ra hơn ba mươi thứ tiếng trên thế giới. Trong tác phẩm này Pirsig mong muốn thống nhất vật chất và ý thức, chủ thể và khách thể bằng cách đưa ra một quan điểm nhất nguyên siêu hình. Ông nói: “Phẩm chất là cội nguồn và bản thể của mọi vật (Pirsig, 1974, 254).  William James nhà triết học thực dụng Mỹ cũng cho rằng, sự phân biệt thành vật chất và ý thức chỉ là sự bổ sung sau này về mặt nhận thức với kinh nghiệm có trước. Theo James không hề có sự tách biệt chủ thể và khách thể, sự phân chia người nhận thức và cái được nhận thức và thời điểm trải nghiệm. James gọi cái thành phần trung tính này của thực tại là “kinh nghiệm thuần túy” (pure experience) (James, 1947, 93). Tương tự như vậy Alfred North Whitehead (1979) cho rằng cái kiến tạo nên thế giới không phải là gì khác hơn sự kiện (event) mà ông gọi là các thực thể thực tế (actual entities), các sự kiện này góp phần tạo nên cả thế giới mà ta gọi là bao gồm vật chất và ý thức. Điều này có vẻ là rất khó hiểu với tri thức thông thường của chúng ta nhưng nếu chúng ta biết rằng vật lý lượng tử chỉ ra rằng cái kiến tạo nên thế giới lượng tự chính là các sự kiện lượng tử (Pirsig 1992).
            Pirsig viết tiếp: “Phẩm chất (hay giá trị, hay cái tốt) là thực tại. Cái định nghĩa duy nhất mà Pirsig đề xuất cho phẩm chất là nó không thể định nghĩa được bởi vì nó là năng động và nó là “vô định hình, không hình thức, và không thể mô tả được” (1974, 252).  Thêm vào đó Pirsig giải thích rằng: “bất kỳ sự giải thích triết học nào về Phẩm chất đều là vừa đúng hoặc vừa sai bởi vì nó là một cách giải thích triết học. Quá trình giải thích triết học lại là một quá trình phân tích, một quá trình bẻ gãy một thứ gì đó thành chủ ngữ và vị ngữ…Những gì mà tôi (và mọi người) đều nói đến bằng từ “phẩm chất” không thể bị chia thành chủ ngữ và vị ngữ. Đây không phải bởi vì Phẩm chất là quá bí ẩn mà bởi vì Phẩm chất quá đơn giản, ngày lập tức và trực tiếp [nhấn mạnh của tác giả]. Chúng ta thấy ở đây sự tương tự trong nhận thức của Pirsig và James về thực tại, đó là “ngay lập tức và trực tiếp”.
Pirsig cho rằng cách hiểu Phẩm chất thô sơ nhất đó là Phẩm chất là sự phản ứng của một cơ thể với môi trường của nó. Ông dùng khái niệm con trùng a mip (amoeba) khi phải tiếp xúc với môi trường axit loãng (8, trang 244):
Con amip sẽ lùi ra khỏi vùng có chứa axit. Vốn không biết gì về axit sulphuric, nếu con amip nói được nó sẽ nói rằng  “môi trường này có phẩm chất quá tệ”. Nếu con amip có một hệ thần kinh phát triển nó sẽ hành động theo một cách phức tạp hơn để khắc phục tình trạng kém phẩm chất của môi trường. Nó có thể tìm kiếm sự tương tự ví dụ như hình ảnh và biểu  tượng từ kinh nghiệm trước đó để xác định bản chất không thoải mái của môi trường mà nó đã tiếp xúc và vì thế “hiểu” về môi trường đó. Thế còn trong thế giới của chúng ta, chúng ta đã tiến hóa tới mức sáng tạo ra những sự tương tự kỳ diệu nhất, con người phát minh ra thiên đường, trái đất, cây cối, tảng đá, đại dương, các thượng đế, âm nhạc, nghệ thuật, ngôn ngữ, triết học, kỹ thuật, nền văn mình và khoa học. Chúng ta gọi những cái tương tự này là thực tại. Đúng là chúng cũng là thực tại. Nhưng thứ khiến chúng ta phát mình ra những tương tự này chính là Phẩm chất. Phẩm chất là sự kích thích liên tục mà môi trường buộc chúng ta phải tạo nên thế giới mà chúng ta sống [tác giả nhấn mạnh]. Mọi thứ, mọi chi tiết của nó đều được tạo ra như vậy.”
             Như vậy theo Pirsig, Phẩm chất không thể được định nghĩa bởi vì nó đi trước về mặt trải nghiệm bất kỳ sự xây dựng về mặt ý thức nào. Phẩm chất có trước bất kỳ khái niệm nào (và chính vì thế nó không thể được định nghĩa, nếu định nghĩa ta sẽ có một thứ gì ít hơn là Phẩm chất). Phẩm chất là động lực cơ bản nhất trong vũ trụ tạo nên mọi thứ từ nguyên tử tới các loài động vật, khiến cho chúng tiến hóa và đạt đến một mức độ cao hơn của Phẩm chất. Quan niệm về một “thứ” gì đó là nguồn gốc của thế giới được gọi là quan niệm Siêu hình (Metaphysics) và Pirsig gọi quan niệm coi Phẩm chất là ngọn nguồn và động lực của vũ trụ là Siêu hình học về Phẩm chất (Metaphysics of Quality-MOQ).
            Pirsig (1991) giới thiệu một cách bài bản MOQ trong tác phẩm Lila: Một cuộc khảo cứu về đạo đức, trong đó ông cho rằng không thể định nghĩa, không thể xác định Phẩm chất, nhưng để hiểu nó rõ ràng hơn nó, Pirsig chia Phẩm chất thành hai hình thức: Phẩm chất động (Dynamic quality) và Phẩm chất tĩnh (Static quality). Phẩm chất tĩnh có thể được định dạng (patterned) còn phẩm chất động là không thể định dạng (unpatterned). Cả phẩm chất động và bốn dạng của phẩm chất tĩnh bao hàm toàn bộ thực tại. Khi nào phẩm chất động trở thành ổn định nó biến thành các kiểu thức của phẩm chất tĩnh. Cần chú ý ở đây là, MOQ không phải là quan điểm nhị nguyên (tức là quan điểm thế giới bao gồm hai “thứ” cơ bản: vật chất và ý thức), mà thế giới theo MOQ chỉ bắt nguồn t một, đó là Phẩm chất. Phẩm chất này thể hiện khác nhau trong mỗi sự vật. Sự thể hiện phẩm chất theo các khía cạnh động và tĩnh này chính là quan niệm biện chứng nhất nguyên.
            Trong sơ đồ của Pirsig, Phẩm chất động chỉ có thể được hiểu thông qua cách dùng so sánh tương tự. Phẩm chất động, hay là cái Giá trị (value), hay là Cái tốt (good) là động lực tạo nên những thay đổi trong thế giới. Khi một khía cạnh của Phẩm chất ổn định hoặc trở nên quen thuộc nó trở thành tĩnh. Phẩm chất động là “cái chiều kích tiền-nhận thức của thực tại” bởi vì Phẩm chất được nhận thức trước và được khái niệm hóa sau. Đó là vì sao vẻ đẹp của một tác phẩm âm nhạc hay hội họa được nhận thức trước; trước khi lời giải thích về cái hay cái đẹp của âm nhạc thành hình. Pirsig sử dụng ví dụ một người nghe một đĩa nhạc hay, sau bao nhiêu lần nghe, cái tuyệt vời, cái sáng bừng của âm nhạc phải dành chỗ cho sự mệt mỏi và chán ngán. Có nghĩa là ở đây Phẩm chất động đã trở thành tĩnh sau khi đã ổn định, đã được làm cho quen.
            Phẩm chất tĩnh đơn giản hơn phẩm chất động vì nó có thể được định nghĩa. Phẩm chất tĩnh có tên và có thể dùng để trao đổi giữa mọi người để xây dựng nên một nền văn hóa. Pirsig chia Phẩm chất tĩnh thành bốn kiểu thức theo trật tự đạo đức tăng dần: vô cơ, sinh học, xã hội, và trí tuệ (hình 1). Kiểu thức vô cơ bao gồm những vật không có sự sống, kiểu thức sinh học bao gồm những thứ có sự sống, kiểu thức xã hội bao gồm hành vi, thói quen, nghi thức, các thiết chế, kiểu thức trí tuệ bao gồm các tư tưởng. Pirsig mô tả sự tiến hóa như là sự tiếp diễn đạo đức của các kiểu thức này. Chẳng hạn một kiểu mẫu sinh học vượt qua kiểu mẫu vô cơ (ví dụ chim bay vượt qua trọng lực) là một điều đạo đức bởi vì kiểu thức sinh học là hình thức tiến hóa cao hơn. Tương tự như vậy kiểu thức trí tuệ khi vượt kiểu thức xã hội (ví dụ phong trào quyền dân sự ở Mỹ) là sự phát triển đạo đức bởi vì kiểu thức trí tuệ cao là hình thức tiến hóa cao hơn xã hội. Như vậy MOQ có thể trở thành hướng dẫn đạo đức cho hoạt động hàng ngày của con người.
            Như vậy chúng ta đã thấy nhiều điểm tương đồng giữa Toàn thể của Alexander và Phẩm chất của Pirsig. Cả hai đều được nắm bắt trực tiếp, thuần túy là kinh nghiệm và có trước bất kỳ phân tích nào. Cả hai đều từ chối bất kỳ định nghĩa nào vì định nghĩa chỉ cho chúng ta một thứ gì khác ít hơn là Phẩm chất/Toàn thể vì Phẩm chất là cái có trước tiên. Nhưng chỉ đến khi Pirsig phân chia Phẩm chất thành Phẩm chất động và Phẩm chất tĩnh thì khả năng của nó trong việc soi sáng sơ đồ Toàn thể của Alexander mới trở nên rõ rệt.
            Alexander (2002; 2004) cho rằng quá trình generative bao gồm ngôn ngữ hình thức và ngôn ngữ kiểu mẫu. Mà mục đích chính của hai ngôn ngữ này là tăng cường tính Toàn thể của cấu trúc. Trong ngôn ngữ hình thức Alexander cho rằng có một cách để gợi ý, hướng dẫn chúng ta đạt được tính toàn thể, đó là thông qua mười lăm thuộc tính của ngôn ngữ hình thức. Mười lăm thuộc tính đó là: Mức độ quy mô (bao gồm số lượng các mức độ xác định của kích thước), Trường trung tâm mạnh (vùng không gian thống lĩnh và chiếm tư thế chủ đạo), Đường biên dày (đường biên dày kết nối các trường trung tâm xung quanh), Lặp xen kẽ (cấu trúc cần phải có sự lặp xen kẽ), Không gian tích cực (hình dạng xác định trong mối quan hệ với vùng không gian xung quanh), Hình dạng tốt (thường đối xứng và có một trường trung tâm được định rõ), Đối xứng cục bộ (đối xứng cục bộ tạo nên sự bố cục cân đối và trật tự mà không dẫn tới cứng nhắc), Sự xen cài chặt (các hình thức cài răng lược vào nhau), Tương phản (mức độ tương phản thường tạo nên một cấu trúc cân bằng và gắn bó), Gradient (sự chuyển dần trong cấu trúc), Đ thô (sự bất thường, tập trung vào các chi tiết chủ chốt trong khi bỏ qua các thành phần thứ yếu), Tiếng vọng (các thành phần tương tự nhau bố trí cùng với nhau để hình thành một cấu trúc thống nhất), Đ rỗng (không gian ngưng nghỉ trong cấu trúc), Mộc mạc và Tự tại (Loại bỏ những thành phần không cần thiết và gây mất tập trung), Không phân ly (Không có thành phần nào bị tách rời).
            Nhưng Alexander (2002) cũng cảnh báo rằng mười lăm thuộc tính trên phải được hiểu như công cụ hỗ trợ để đạt đến Toàn thể cao hơn, chứ không phải là mục đích của cái toàn thể. Tương tự như vậy ngay cả ngôn ngữ kiểu mẫu dù rất mạnh mẽ cũng không phải là mục đích cuối cùng của quá trình xây dựng. Mục đích cuối cùng là tạo nên môi trường giàu sự sống (living environment)[1]. Tương tự như với Pirsig mục đích cuối cùng là có được Phẩm chất cao hơn. Vì vậy ta có sơ đồ như trong hình 2.




Hình 1. Sơ đồ tiến hóa của các kiểu thức trong Phẩm chất tĩnh. Nguồn: McWatt và Priezkalns


Hình 2. Mối quan hệ giữa Toàn thể và quá trình generative tương tự như quan hệ giữa Phẩm chất động và Phẩm chất tĩnh. Nguồn: tác giả

            Vậy phải chăng với các phẩm chất không thể gọi tên được (quality without name) chúng ta không thể đo lường chúng đươc. Về bản chất đúng là như vậy! Chúng ta chắc không bao giờ có thể đo lường được tính toàn thể trong một công trình kiến trúc, tương tự như ta không thể đo lường được phẩm chất theo quan điểm của Pirsig. Nhưng Pirsig đã chỉ ra rằng có hai loại phẩm chất, phẩm chất động và phẩm chất tĩnh. Trong khi phẩm chất động là cái không thể nắm bắt phẩm chất tĩnh là cái ta có thể đo lường được (vì về bản chất người ta tạo ra phẩm chất tĩnh là để giúp cho việc truyền thông, tiện cho việc xây dựng các thiết chế xã hội cũng như đánh dấu mức độ tiến hóa của vũ trụ và xã hội loài người). Như thế những nỗ lực đo lường cái toàn thể hoặc phẩm chất là có cơ sở dù rằng các nỗ lực này chỉ là cách tiếp cận mãi mãi gần đúng tới toàn thể.

Đo lường sự sống trong công trình kiến trúc
Phương pháp của Salingaros
            Salingaros (2005) đề xuất sử dụng công thức L = TH (1)  để đo lường sự sống trong một công trình kiến trúc xuất phát từ sự tương tự với quá trình nhiệt động học trong vật lý. Trong đó
T là nhiệt của một công trình. Còn H là sự hài hòa trong công trình. T được đo bằng công thức (2)
                     T = T1 + T2 + T3 + T4 + T5                                                                        (2)
Với :
            T1 = cường độ/mật độ của chi tiết kiến trúc
            T2 = cường độ của sự khác biệt của các chi tiết kiến trúc
            T3 = độ cong của đường và hình
            T4 = cường độ của màu sắc
            T5 = độ tương phản giữa các màu sắc
H được tính bằng công thức (3):
            H = H1 + H2 + H3 + H4 + H5                                                                            (3)
            H1 = là đối xứng phản xạ (reflection symmetries on all scales)
            H2 = là đối xứng tịnh tiến (translational and rotational symmetries on all scales).
            H3 = mức độ mà các hình thức khác nhau có hình dạng gần như nhau
            H4 = mức độ mà các hình thức liên hệ về mặt hình học với nhau
            H5 = mức độ hài hòa về màu sắc
Phương pháp của Bin Jiang
            Bin Jiang (2013) nhà nghiên cứu tại Đại học Galve Thụy điển cho rằng có thể do lường cái toàn thể hay sự sống trong một công trình kiến trúc thông qua cái ông gọi là chỉ số Ht-index.
            Ht-index đo lường tính chất phức tạp của cấu trúc fractal (cấu trúc có các thành phần lặp đi lặp lại ở các quy mô khác nhau) . Chỉ số này xác định sự phân bố mà trong đó có rất nhiều thành phần nhỏ và có thiểu số các thành phần lớn, hay nói cách khác phân bố của các thành phần là một phân bố thiên về đuôi (heavy-tailed distribution). Công thức tính chỉ số Ht-index như sau:
            h = m(r) + 1                                                                                                          (4)
            Trong đó m là số lượng của các giá trị trung bình đạt điều kiện trong quá trình phân chia đầu/đuôi (head/tail break). Chỉ số Ht-index đo lường tính chất đa tỷ lệ của sự phân bố các thành phần trong cấu trúc. Trong phân bố này có rất nhiều thành phần có kích thước nhỏ trong khi đó các thành phần có kích thước lớn chiếm số lượng ít hơn. Sự lặp lại tính chất này có thể thấy ở các quy mô khác nhau. Mức độ lặp lại càng cao (tức là ht-index càng cao) cấu trúc càng phức tạp và càng có mức độ toàn thể cao hơn.


Hình 3: Mức độ toàn thể của công trình lâu đài Alhambra được đo lường bằng chỉ số Ht-index. Có 725 không gian lồi, hay trường trung tâm. Các trường trung tâm được phần chia thành những trường trung tâm thứ cấp. Mức độ toàn thể của các trường trung tâm được chỉ định bằng các chấm. Mặt bằng công trình xét toàn cục có chỉ số Ht-index bằng 6 (theo công thức 4).

 Bảng 1: Các kiểu mẫu và thuộc tính tương ứng trong đô thị cổ Hội An
       
Kết luận
            Phẩm chất của Pirsig hay cái toàn thể của Alexander có nhiều điểm tương đồng với nhau. Cái toàn thể của Christopher Alexander có thể được thiết lập thông qua ngôn ngữ kiểu mẫu và ngôn ngữ hình thức. Persig chia ra hai loại phẩm chất: phẩm chất động và phẩm chất tĩnh. Phẩm chất tĩnh bao gồm các mức từ thấp đến cao: vô cơ, sinh học, xã hội, và trí tuệ tương ứng với sự tiến hóa của vũ trụ. Ông đề xuất quan điểm siêu hình rằng cái giá trị hay cái phẩm chất là cái kiến tạo nên thế giới. Người ta biết đến phẩm chất hoặc giá trị một cách trực tiếp và ngay lập tức thay vì phải thông qua phân tích như chúng ta vẫn tưởng. Tuy nhiên chúng ta có thể một cách nào đó tiến gần lại phẩm chất. Ở đây tác giả sử dụng các chỉ số khách quan để đo lường tính toàn thể trong công trình.  
-          Chỉ số sự sống thông qua hai giá trị nhiệt kiến trúc và sự hài hòa do Salingaros đề xuất
-          Chỉ số Ht-index do Bin Jiang đề xuất
Trong khi hai chỉ số đầu chỉ đơn thuần biểu hiện hình thức đô thị, thì tác giả cho rằng chỉ số CI vừa thể hiện được mức độ hài hòa của không gian kiến trúc lại vừa thể hiện được các hoạt động xã hội bên trong không gian đó.

 
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Alexander, C. 1978. Timeless way of building. London: Oxford University Press. 
Alexander, C. 2002. The nature of order: The phenomenon of life, Book 1. Berkeley, CA: Center for Environmental Structure.
Alexander, C. 2004. The nature of order: The Luminous Ground,Book 4. Berkeley, CA: Center for Environmental Structure.                      
Alexander, C., Ishikawa, S., Silverstein, M., Jacobson, M., Fiksdahl-King, I., and Angel, S. 1977. A pattern language: towns, buildings, construction. London: Oxford University Press.
Alexander, C., Neis, H., Anninou, A. and King, I., 1987. A New Theory of Urban Design. New York, NY: Oxford University Press.
Anthony McWatt, & Eric Priezkalns. 2015. 'The role of evolution, time and order in Pirsig's "Metaphysics of Quality," Quantonics.com. http://www.quantonics.com/Anthony_McWatts_MoQ_Paper.html.
James, William., 1947. Essays in Radical Empiricism and A Pluralistic Universe. Longmans, Green And Co.
Jiang, Bin. 2015. "Wholeness as a hierarchical graph to capture the nature of space". International Journal of Geographical Information Science 29 (9): 1632-1648. Informa UK Limited. doi:10.1080/13658816.2015.1038542.
Pirsig, Robert. 1992. Lila: An Inquiry into Morals.. Boston: Bantam.
Pirsig, Robert M. 1974. Zen and the art of motorcycle maintenance. New York: Morrow.
Salingaros, N A. 2008. A theory of architecture. Solingen, Germany: Umbau-Verlag.
Whitehead, A. N. 1979. Process and Reality. 2nd ed. Boston, MA: Free Press.









[1] Ta có thể liên tưởng đến “ngón tay” của Phật Thích Ca khi chỉ về mặt trăng. Đừng nhầm mặt trăng (cái toàn thể/môi trường giàu sự sống) với ngón tay (ngôn ngữ kiểu mẫu và ngôn ngữ hình thức) của Phật. Chính Pirsig cũng có quan sát tương tự khi nói về Phẩm chất động và Phẩm chất tĩnh. Phẩm chất động luôn luôn đi trước và là mục đích của MOQ. Phẩm chất tĩnh là phương tiện để đạt đến Phẩm chất động.

1 nhận xét:

Nặc danh nói...

Bài viết rất hay, cảm ơn tác giả

Kevin Lynch- Good City Form- Hinh thuc hoan hao cua thanh pho