Thứ Ba, 18 tháng 9, 2012

TÓM LƯỢC CHƯƠNG THÀNH PHỐ CỦA CÁC TÒA THÁP Trong City of Tomorrow của Peter Hall



Nguyễn Hồng Ngọc
Peter Hall bắt đầu chương viết về “Thành phố của các tòa tháp” với nhân vật lừng danh của kiến trúc và đô thị thế kỷ 20 Le Corbusier. Ông tự hỏi tại làm sao ảnh hưởng của Le Corbusier lại lớn đến thế, ở mức độ tốt nhất là đáng nghi nghờ kết quả, ở mức độ xấu là thảm họa của quy hoạch.
Có lẽ không cần phải nói nhiều về nhân vật nổi tiếng này. Le Corbusier sinh ra ở Thụy Sĩ, trong một gia đình làm đồng hồ. Mà theo Peter Hall thi người Thụy Sĩ nỏi tiếng về sự gọn gẽ, ngăn nắp, có lẽ đó cũng làm những dấu vết làm nên Le Corbusier trong quy hoạch, ông ta không thể chịu đựng nổi sự lộn xộn, hỗn độn của Paris vào thời mà ông ta đang sống. 

 


Phản ứng của Le Corbusier đối với Paris là phản ứng đối với một thành phố đô hội, hỗn độn và có phần nhớp nhúa. Hình mẫu mà Le Corbusier ngưỡng mộ là Louis XIV, là Napoleon và Nam tước Hausmann, ông ta coi họ như những nhà quy hoạch vĩ đại
Đề xuất đầu tiên của Le Corbusier trong quy hoạch là bản quy hoạch Voisin, lấy tên theo nhà tài trợ cho dự án là một công ty chuyên sản xuất máy bay, chẳng thế mà ta thấy máy bay ban lượn vòng vèo trong bản quy hoạch của ông ta bất chấp quyển điều khiển không lưu. Trong quy hoạch này Le Corbusier để xuất 18 khối nhà cao tầng giống hệt nhau, một tòa cao 210 m. Đê thực hiện được quy hoạch Le Corbusier đế xuất phá hủy phần lớn bờ Bắc sông Seine (chỉ giữ lại một vài công trình lớn như Điện Vendome, một công trình mà ông ta coi như hình mẫu về trật tự). Đáp lại sự hăm hở của Le Corbusier là phản ứng dữ dội của công chúng và các tầng lớn nhân dân Pháp, họ gọi ông ta là tên man rợ (nguyên văn: barbarian)
 

Nhưng Le Corbusier không nản chí ông ta vẫn một mực tin rằng “Công cuộc thiết kế thành phố quá quan trọng đến mức không thể để cho dân thường tham dự vào”
Tiếp đó ông ta đề xuất La Ville contemporaine ( Thành phố Đương đại ) năm 1922 và La Ville radieuse (Thành phố Rực rõ hào quang) năm 1933. Trong đó ông ta đề xuất giải tỏa phần trung tâm thành phố bằng cách tăng cường mật độ. Thứ nữa là cải thiện giao thông và tăng thêm khoảng không gian mở. Để thực hiện nhiệm vụ đó, cần phaai xây dựng nhà cao tầng trên một khu vực diện tích nhỏ mà thường là trung tâm thành phố. 


Le Corbusier nói “...thành phố đang bị chết dần đi, bởi vì nó không được câu trúc theo phương thẳng đứng” và “...trung tâm thành phố hiện tại cần phải bị xóa xổ”. Mọi sự có vẻ như đơn giản và dễ dàng, nhưng nó lại chứa đưnng những thất bại lớn lao tiềm tàng, chẳng hạn như có nhà nghiên cứu đã chỉ ra một trong những vấn đề của các thành phố của Le Corbusier là chúng không đề cập đến bãi đỗ xe, trong khi đó là một thành phố theo định hướng cho ô tô cá nhân, thứ hai là ở đây tác giả không hề đề cập đến các vấn đề như ô nhiễm môi trường: tiếng ồn và khí thải xe chẳng hạn. 





Các thành phố của Le Corbusier còn là các thành phố có mức độ chia rẽ (segregation) theo giai cấp rất lớn. Trong các tòa cao tầng của Le Corbusier thì các tòa nhà trung tâm dành cho tầng lớn tinh hoa (elite cadres), các nhà khoa học, các nghệ sĩ. Le Corbusier dự định trong Thành phố Rực rỡ hào quang rằng có 24 tòa nhà dành cho 400,000 đến 600,000 người. Tổng cộng trải trên một diện tích 1200 mẫu Anh (khoảng 540 hecta)
Và Chandigarh
Chandigarh vốn là thủ đô của bang Punjab, Ấn Độ sau khi dành được độc lập. Chính quyền của bang này ban đầu thuê Albert Mayer- một người theo truyền thống quy hoạch của Raymon Unwin, Barry Parker và Frank Lloyd Wright. Mà chính quyền đã có được một quy hoạch khá theo kiểu này và đã chuẩn thuận quy hoạch đó. Nhưng lúc đó những người hoạch định chính sách lại mời một đoàn chuyên gia kiến trúc nổi tiếng thế giới đến để cho ý kiến. Kết quả là một thảm họa cho Albert Mayer, với việc Le Corbusier chiếm lấy toàn bộ công việc, quyết định từ những chi tiết nhỏ nhất. Maxwell Fry đã thuật lại rất sống động cảnh Le Corbusier phủ nhận công việc của người khác rất sống động trong City of Tomorrrow của Peter Hall (trang 227). Đoạn tường thuật này cũng thể hiện cái tôi to lớn của ông ta trong quá trinh quy hoạch Chandigarh.
Có thể nói Chandigarh là nơi đã thực hiện triệt để các nguyên tác quy hoạch của Le Corbusier trong La Ville contemporaineLa Ville radieuse. 



Cũng có thể nói rằng bản quy hoạch này đã chuyển từ công tác quy hoạch thành công tác thiết kế thành phố (design city, xin đừng nhầm với thiết kế đô thị urban design) theo “ý tưởng” của Kiến trúc sư Bậc thầy: chuyển toàn bộ hoạt động quy hoạch sang những vấn đề như yếu tố thị giác, thẩm mỹ, tính biểu tượng. Ở đây cũng cần phải nhấn mạnh việc Le Corbusier đã không đếm xỉa đến những vấn đề của người dân Ấn Độ trong khi quy hoạch thành phố.
Môt số đặc điểm của quy hoạch Chandigarh là:
-          Phân loại giao thông theo tầng bậc
-          Tạo mối quan hệ giữa đường phố và công trình theo kiểu Châu Âu (khoảng lùi quá lớn) mà hoàn toàn bỏ qua các yếu tố khi hậu (nóng bức, cần nhiều bóng râm)
-          Chia rẽ các khu vực theo thu nhập.
-          Cuối cùng “thiêt kế” này hoàn toàn bỏ qua tất cả các đặc điểm truyền thống của Ấn Độ, từ kiến trúc đến phong tục tập quán và lối sống.

Đến Brasilia
Louis Costa thắng trong một cuộc thi đáng ngờ (Oscar Nieymer trong ban giám khảo, mà Oscar Nieymer và Costa đều là bạn) khi ông ta trinh bày năm bản vẽ khô giấy trung bình phác bằng tay. Hoàn toàn không có dự báo dân số, không có phân tích kinh tế, không có kế hoạch sử dụng đất, cũng không có mô hình.
Tương tự như Chandigarh, Brasilia được thiết kế bởi kiến trúc sư hơn là bởi những nhà quy hoạch. Một vài đặc điểm của “thiết kế” thành phố này là:
-          Mang vẻ phô trương, mô phỏng hình máy bay hay con chim (who cares?). Thiết kế với các siêu block được mắc vào một hệ thống giao thông theo định hướng dành cho ô tô cá nhân
-          Mong muốn thay thế chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa tập thể (collectivism) nơi mà người lao công có thể sống gần các vị đại sứ và bộ trưởng. Cái vỏ của thành phố thể hiện và tổ chức trật tự xã hội mới. Một mong muốn mang nhiều màu sắc không tưởng



-          Cả thành phố không thể hiện một liên hệ gì với lịch sử hay hoàn cảnh địa phương. Đó là một thành phố được xây dựng từ một nơi hoàn toàn trống (clean slate)
-          Xây dựng thành phô bằng bất cứ giá nào. Không một ai biết giá đích thực là bao nhiêu.
Mặc dù bị cấm cản làm mọi cách để ngăn chặn nhưng Taguantinga- một thành phố tự phát thứ hai vốn là nơi ở của những người công nhân lên xây dựng Brasilia đã hình thành và phát triển (một favelas theo tiếng Bồ Đào Nha).
Mặc dù cho ý tưởng về chủ nghĩa tập thể có mạnh thế nào trong quy hoạch Brasilia, thì sự phần chi giàu nghèo vẫn xuất hiện ở một đất nước mà người giàu và người nghèo đã luôn luôn bị chia ra sống ở những vùng khác nhau.
Ảnh hưởng của Le Corbusier ở Anh và Mỹ
Anh
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nước Anh phải đối mặt với vấn nạn thiếu nhà ở trầm trọng. Các nỗ lực tái thiết thường bị ảnh hưởng bởi trao lưu Hiện đại trong kiến trúc, rõ nhất là ảnh hưởng của CIAM mà hiện thân là Le Corbusier. Tuy vậy các nỗ lực tái xây dựng nhà ở tạo nên một sự hỗn hợp giữa nhà ở riêng lẻ và căn hộ cao tầng.
Giai đoạn này, ảnh hưởng của Corbusier khá rõ. Frederic Osborn viết “những người trẻ dưới ảnh hưởng của ông ta [Le Corbusier] hoàn toàn vô cảm trước các suy xét kinh tế và nhân văn” (tr. 237, City of Tomorrow). Chẳng hạn ở Alton West, hạt Roehampton vào năm 1950 chính là một bản sao của La Ville Radieuse với 384 khôi nhà cao tầng giống hệt nhau. Cái mà người dân ở đây đều nhận thấy là sự thiếu tiện nghi, thiếu môi trường sống thân thiện, thiếu cảm giác cộng đông, thiếu tất cả mọi thứ, cái có duy nhất là bốn bức tường và mái nhà.
Theo Hiệp hội Kiến trúc sư (Anh) thì những tòa nhà cao tầng là hiện thân cho đất nước đang trở mình từ lạc hậu thành một nước đi đầu [trong kiến trúc]. Nhưng các hậu quả xã hội của nhà cao tầng là to lớn, theo lời kể của một người thuê nha, thì khoảng chừng mười năm đầu mọi việc đều ok, mọi người ai cũng tốt, ai cũng giữ gìn để khu nhà không bị một tì vết. Nhưng mọi chuyện trở nên xấu đi khi những người quản lý mang đến một số người thuê nhà bất hảo, với mong muốn “họ được cải tạo” [nhờ sống với những người tốt!] nhưng sự thê ngược lại “họ đã kéo chúng tôi xuống”. Điều này thể hiện đối với chung cư cao tần thì vấn đê quản lý là quan trọng nhất.
Còn theo Kenneth Campbell thì những thất bại trong chung cư cao tầng là vì 1) thang máy quá ít và quá chậm; 2) các hộ ở có quá nhiều trẻ em; 3) Quản lý kém.
Peter Hall cho rằng vấn đề thực sự của chung cư cao tầng chính là thất bại của một kiểu thiết kế ép từ trên xuống (top-down), không cần biết đến ý muốn của người ở, không cần biết đến lối sống của họ.
Theo thiển ý của người viết, dù có chấp nhận hay không chấp nhận chung cư cao tầng, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng những thất bại được ghi trong lịch sử quy hoạch của nhà cao tầng chỉ càng nêu ra vấn đề là nhà cao tầng không phải là cấu trúc dễ phục hổi (a non-resilient structure), nó là một cấu trúc dễ bị tổn thương. Khi so sánh thuộc tính dễ phục hồi (resilient) của nhà cao tầng với các nhà thấp tầng hoặc nhà ở truyền thống ta càng thấy rõ sự đối nghịch này.
Nước Mỹ
Cấu trúc tài chính cho nhà chung cư (public housing) ở Mỹ có khác biệt so với nước Anh, trong đó chính quyền liên bang trả tiền mua đất và tiền xây dựng. Nhưng tiền bảo trì và vận hành công trình được chi trả bởi tiền thuê nhà. Tuy nhiên sau những năm 1940 thì điều kiện này được dỡ bỏ, và các gia đình hưởng trợ cấp có thể tham gia vào chương trình nhà ở xã hội.
Vấn đề Giải tỏa đô thị (Urban Renewal) ở Mỹ có thể coi bắt đầu từ đạo luật Nhà ở năm 1949 và sau đó được tu chính theo Đạo luật Nhà ở năm 1954, tuy nhiên có thể lần theo xuất xứ xa xưa của đạo luật này vào dựa vào bản báo cáo năm 1937 của Ủy ban Đô thị thuộc Ban Quy hoạch Tài Nguyên Tự nhiên. Báo cáo này đã nhẫn mạnh tới sự suy thoái của đô thị gây nên bởi đât bỏ hoang trong thành phố.
Như vậy theo Đạo luật năm 1949 thì chính quyền có thể giải tỏa các khu ổ chuột (slum), sau đó mời gọi các nhà đầu tư bất động sản cộng thêm trợ giá của chính phủ.

Mọi sự diễn tiến khá thuận lợi với liên minh của chính quyền và nhà đầu tư. Tuy nhiên đên khoảng những năm 1950, 1960 hoạt động này đã gặp những phản đối từ các liên minh chông-giải tỏa.
Một trong những gương mặt điển hình của giải đoạn này là Robert Moses, được mệnh danh là “người xây dựng vĩ đại”, ông ta đã xây dựng công viên, xa lộ, cầu, và sau này trong giai đoạn “Giải tỏa Đô thị” là nhà chung cư. Moses là người tin tưởng vững chắc vào mô hình quy hoạch theo kiểu từ trên xuống (top-down planning) nhưng theo đúng tinh thần của người phục vụ công (public-spirited civil servant), nhưng đồng thời ông ta cũng là người nắm được khâu quan trong nhất của hoạt đông phát triển đô thi: xây dựng các mối liên hệ chính trị. Đã có lúc Moses giải tỏa tới 100.000 người có thu nhập thấp mà phần lớn là người da đen và gốc Nam Mỹ (ông ta gọi là “Negro removeal”), bằng tầng lớp trung lưu.
Tuy nhiên khi đụng đến làng Tây Greenwich là Moses đã đụng đến Jane Jacobs tác giả của “Cái chết và sự sống của các Đại đô thị Mỹ” (The Death and Life of Great American Cities). Kết cục là sự thất bại của Moses với việc xa lộ mà ông ta dự kiến không được xây dựng. Sau đó với sự ra đời của quyển sách của Robert Caro, tố cáo các thủ đoạn mà Moses đã sử dụng trong 50 “cầm quyền” của mình, Moses bị buộc rời khỏi chức vụ- không còn là Bậc thầy Xây dựng nữa.
Một số vấn đề nghiêm trọng của hoạt động “giải tỏa ổ chuột” những năm 1960 là có khi phá hủy nhà hiện hữu tới 4 lần hơn việc xây mới, bỏ hoang đất đô thị (thường một dự án phải mất 12 năm mới hoàn thành), sau khi thực hiện thì có tới 40% đât không dành cho nhà ở, nếu có thì lại là các căn hộ cao cấp theo giá thị trường.
Jane Jacobs cho  rằng vấn đề của đô thị không phải là mật độ cao hay không, bà đề xuất có thể xây tới 100 căn nhà/căn hộ cho từ 200 đến 300 người một mẫu anh (khoảng 0.45 hecta), đó cũng chính là mật độ của New York. Vấn đề thành công hay thất bại của đô thị chính là ở chỗ phải có hỗn hợp chức năng, hỗn hợp sử dụng đất, đảm bảo rằng mọi người sinh sống, đi lại khu đô thị đó với các mục đích khác nhau, theo các thời gian biểu khác nhau và cuối cùng phải sử dụng chung các công trình (Christopher Alexander cũng đề xuất tương tự trong “Thành phố không phải là cây phả hệ”- xem thêm trong blog này). 



Pruitt-Igoe đặt dấu chấm hết cho các chương trình chung cư cao tầng ở Mỹ. Khởi đầu như một thiết kế được ca ngợi, nhưng đến năm 1970 chỉ có 65 phần trăm căn hộ được thuê. Vẻ đổ nát, xập xệ hiện diện khắp nơi trong số 34 thang máy thì 28 không hoạt động được. Vẽ bậy, tiểu tiện, rác, chuột lan tràn. Năm 1972 chính quyền Saint Louis cho nổ mìn khu chung cư này.
Theo Oscar Newman thì vấn đề là các kiến trúc sư không bao giờ chịu học hỏi xem các công trình hiện tồn tốt xấu ra sao, sau đó thì cải thiện thiết kế (một kiểu học từ phản hỏi –feedback trong adaptive design nếu bạn đọc có theo dõi các post trước của tôi).  Đó là hệ quả của hai lối tư duy trong kiến trúc. Một là theo các phương pháp xã hội (social methogologist) hai là theo phương pháp siêu hình (style methaphisicians), khỏi cần nói các kiến trúc sư hiện đại thời kỳ này theo phương pháp thứ hai. Nhưng thiết kế không phải là vấn đề duy nhất, mà vấn đề còn ở chỗ thu nhập và quản lý. Vậy vấn đề cũng không khác ở Anh quốc.
Để kết thúc bài tóm lược này tôi muốn trích dẫn hai đoạn một của Peter Hall nói về Le Corbusier và ảnh hưởng của ông ta.
“Tội lỗi của Le Corbusier và những người theo ông ta không phải ở thiết kế của họ, mà ở sự ngạo mạn vô lối theo đó họ áp đặt lên người khác, những người không thể chấp nhận và cũng không bao giờ, dù chỉ là một chút trong ý nghĩ, có thể mong là chấp nhận họ” (tr. 261, City of Tomorrow).
Và “Thật không may, những ý tưởng [của Le Corbusier] được kiểm nghiệm trên con người như với các con lợn guinea, và sau đó đẻ lại các bài học đau xót cho các thế hệ quy hoạch tương lại” (tr. 261, City of Tomorrow).












1 nhận xét:

Lê Thanh Hòa nói...

Rất hay Thầy à,tiếp tục đăng thêm những bài khác Thầy nhé!

Kevin Lynch- Good City Form- Hinh thuc hoan hao cua thanh pho