Chủ Nhật, 11 tháng 3, 2012

VỀ VẤN ĐỀ CỦA KIẾN TRÚC: Trở lại với chương cuối của "Cái chết và sự sống của các thành phố lớn ở Mỹ của Jane Jacob"

Michael Mehaffy


“Khoa học mới” về sự phức hợp có tổ chức chỉ mới theo tiêu chuẩn lịch sử. Nhưng hàm ý cách mạng của nó vẫn đang làm mới nhiều ngành khoa học và vẫn đang đê xuất cho chúng ta những mô hình mới của tư duy và hành động. Không ở đâu thích hợp hơn hoặc không ở đâu kém hoàn thiện hơn trong lĩnh vực quy hoạch và kiến trúc.

Sự thực là nhiều ý tưởng về sự phức hợp có tổ chức, được diễn dịch thành các khái niệm về cách tổ chức sử dụng đất đa dụng (mixed use) và tính đa dạng của chức năng sử dụng, đã có những tác động biến chuyển lĩnh vực quy hoạch đô thị. Ví dụ, chúng đã là nguồn gốc cho sự hứng khởi của Chủ nghĩa Đô thị Mới như là một phong trào ở Mỹ. Từ những thập niên 1960, những nhà tư tưởng luận chiến như Jane Jacobs và Christopher Alexander (trong bài báo mang tính bước ngoặt Thành phố không phải là cây phả hệ) đã ghi nhận được những ẩn ý đầy quyền năng trong việc thách thức cơ sở của kiến trúc và quy hoạch và đề xuất một đường hướng vững chắc cho công cuộc cải cách.

Nhiều kiến trúc sư và nhà quy hoạch đã đọc “Về cái chết và sự sống của các thành phố lớn ở Mỹ” của Jacobs và có lẽ họ cũng nhớ rằng chương cuối đầy tính luận chiến của nó “Về loại vấn đề của thành phố”. Bất kỳ ai quen thuộc với văn bản này- hoặc bất kỳ ai muốn được nhắc nhở về chất hiền minh của chương này –sẽ làm mọi cách để đọc, hoặc đọc lại- kỳ công này.

Jacobs nói về lịch sử của tư duy khoa học và mối quan hệ với nó theo cách mà chúng ta nghĩ và hành động đối với thành phố. Bà lưu ý khoa học hiện đại đã cất cánh như thế nào vào khoảng thời kỳ Newton, khi nó làm chủ vấn đề được gọi là những vấn đề hai biến, giống như mối quan hệ giữa bao nhiêu nhà ở nơi này với bao nhiêu kho tàng có thể bố trí ở nơi kia. Hoặc như trong vật lý, theo đó luật chuyển động quy định các vấn đề hai-biến.

Nhưng vào đầu thế kỷ hai mươi, một điều kỳ thú bắt đầu xuất hiện: thông qua thống kê và xác suất chúng ta học cách quản lý những số lớn, khi chúng ta có hang ngàn biến tương tác với nhau. Điều thú ví mà chúng ta tìm thấy là người ta có thể quản lý những hiện tượng như các giá trí trung bình mang tính thống kê mà không cần quan tâm nhiều về tương tác thực sự giữa chúng.

Khoa học thống kế này đã được chuyển dịch thành quyền lực về công nghệ có tính hiện tượng của cuộc cách mạng công nghiệp. Rất nhiều kỳ công về công nghệ của thế kỷ XX đã bắt nguồn từ những phương pháp thông kề hùng mạnh này. Jacobs đã chỉ ra rằng những ý tưởng ban đầu của Le Corbusier và những người khác, sau này là ý tưởng của các nhà quy hoạch- thường thịnh hành ngày nay- đều dựa trên khái niệm thống kế trung bình.

Vì thế cũng giống như tiến bộ trong khoa học, ở đó cũng có tiến bộ, nếu có thể nói thể, mang tính hình thức và cứng nhắc của các bản quy hoạch “duy lý” (rational) của Haussmann, hoặc của Ebenezer Howard và quy hoạch ngăn nắp những mang tính khu biệt của Thành phố Vườn, thông qua các bản quy hoạch mang tính thống kê của Le Corbusier, sau này được ứng dụng hầu khắp thế giới bởi những người như Robert Moses .
Trong mọi trường hợp vấn đề của thành phố được coi như một trong những sơ đồ kỹ thuật mang tính tinh giản (reductive engineering schemes) nhằm tìm kiếm sự tách biệt những thành phần mang tính cơ giới theo một giải pháp công năng thuận tiện. Nhưng trong trường hợp trước nó là một sơ đồ kỹ thuật mang tính hai biên, còn trong trường hợp sau vân đề của thành phố cũng được xem như một trong các cơ chế thống kế hoạt động theo luật số lớn. Một ngành khoa học mới mẻ được bổ sung cho cái cũ.

Trong lúc đó sinh vật học đã bước qua ranh giới của thế giới thống kê của cái được gọi là “sự phức hợp không có tổ chức” và bắt đầu hiểu hiện tượng được gọi là “sự phức hợp có tổ chức”- lãnh địa nằm giữa những vấn đề mang tính hai biến và vấn đề của một số lượng lớn các biến. Nói theo ngôn ngữ sinh học, ở nơi mà hiện tượng của cuộc sống nảy sinh. Hoá ra những vấn đề của môi trường sống con người giống như những vấn đề của “tính phức hợp có tổ chức”. Jacobs viết thế này:

…Trong khi ngành quy hoạch đô thị chỉ làm cho mình mắc kẹt trong sự thiếu hiểu biết về bản chất căn cơ nhất của vấn đề mà nó phải đương đầu, các ngành khoa học sự sống…đã và đang cung cấp một số khai niệm và quy hoạch đô thị cần…Và một số lượng ngày càng tăng những người đã bắt đầu,dân dần, nghĩ về thành phố như những vấn đề của sự phức hợp có tổ chức—những tổ chức hữu cơ toàn toàn là những vấn đề chưa được khám phá, nhưng rõ ràng là quan hệ qua lại với nhau một cách phức tạp và chắc chắn là có thể hiểu được mối quan hệ giữa chúng…

Ý chính mà bà nêu ra về việc làm thế nào mà nghề kiến trúc và quy hoạch vào thời điểm đó, độc giả nên nhớ là năm 1962, còn mắc kẹt trong khoa học cũ. Bà nói:

Quy hoạch ngày nay chứng tỏ rất ít tiến bộ khi so sánh với những bản quy hoạch được trình bày một thế hệ trước. Trong giao thông ở cấp vùng hay cấp địa phương, không có cái gì được đề xuất mà không thể tìm thấy trong bản quy hoạch toàn cảnh (diorama) được thực hiên năm 1938 bởi hãng General Motor tại Hội chợ Thế giới New York, và trước đó bởi Le Corbusier. Ở một mức độ nào đó là sự thoái bộ. Không có sự bắt chước suy đồi nào ngày nay với Trung tâm Rockefeller tốt bằng thiết kế nguyên thuỷ của nó, vốn được xây dựng khoảng một phần tư thế kỷ trước…

Rồi bà tổng kết những gì mà bà coi là các bài học của sự phức hợp có tổ chức:
Để hiểu thành phố, tôi nghĩ thói quen quan trọng nhất của tư duy là:
1. Nghĩ về các quá trình
2. Tư duy quy nạp, lý luận từ các trường hợp cụ thể đến trường hợp tổng quát, hơn là ngược lại
3. Tìm kiếm những đầu mối (những gợi ý- ND) “không trung bình” bao gồm những đại lượng rất nhỏ, có thể phát lộ những đại lượng lớn và các đại lượng trung bình đang hoạt động.

Bà tổng kế vấn đề như sau:

Chừng nào mà [chúng ta] còn gắn chặt với những giả định chưa được kiểm chứng rằng [chúng ta] đang phải đương đầu với một vấn đề của khoa học vật lý [đó là, cơ học], thì thành phố và quy hoạch không thể phát triển. Tất nhiên là nó bị sa lầy. Nó thiếu cái điều kiện cần của một phương pháp thực nghiệm và lối tư duy tiến bộ: sự ghi nhận thể loại vấn đề mà ta đang nghiên cứu. Thiếu điều này, nó được xây dựng trên nền tảng ngắn nhất đi tới một ngõ cụt.

Ngày nay chúng ta bắt đầu suy nghĩ một cách khác về “Kiểu vấn đề của thành phố”. Những gì mà chúng ta chưa làm là – và là nhiệm vụ chủ chốt, trao cho các hệ thống phức tạp vốn thường không theo quy mô (scale-free)—đánh giá lại một cách kỹ lưỡng hơn “Loại vấn đề của thành phố”. Tài liệu xuất bản này mới chỉ là bước khởi đầu cho tiến trình đó.

Nguồn: http://www.katarxis3.com/Jacobs.htm

Không có nhận xét nào:

Kevin Lynch- Good City Form- Hinh thuc hoan hao cua thanh pho