Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2012

NHÂN ĐỌC “PHẢN KIẾN TRÚC VÀ CHỦ NGHĨA GIẢI CẤU TRÚC” CỦA NIKOS SALINGAROS[i]

Bạn đọc thân mến, xét thấy việc tiếp cận các văn bản gốc bằng tiếng Anh của các tác phẩm có giá trị về kiến trúc và quy hoạch đô thị còn khá khó khăn tại nước ta. Bắt đầu từ giờ tôi mở thêm một chuyên mục tạm gọi là đọc sách giùm bạn. Chủ yếu tôi sẽ tóm tắt lại các tác phẩm có giá trị về kiến trúc, quy hoạch và thiết kế đô thị. Trọng tâm của tôi vấn là cố gắng giới thiệu phương pháp thiết kế tùy ứng (adaptive design hay Christopher Alexander còn gọi là generative method), ngôn ngữ kiểu mẫu (pattern language), cũng như phê phán chủ nghĩa Hiện đại, Hậu hiện đại và Giải kết cấu. Nội dung chắc chắn không hề đơn giản nhưng đầy hứng thú với bản thân tôi, mong bạn đọc cũng cảm thấy hứng thú như vậy và nếu có thể cảm thấy hữu ích trong công việc của mình. Mọi nhận xét đúng mực và văn minh đều được hoan nghênh.
Trong bài ra mắt này tôi giới thiệu tác phẩm "Phản kiến trúc và Chủ nghĩa giải kết cấu" của Nikos Salingaros. Trong các bài sau sẽ giới thiệu tác phẩm "Một lý thuyết kiến trúc" cũng của Salingaros.

Nguyễn Hồng Ngọc

Người ta không thể không bật cười khi đọc những dòng giới thiệu của James Stevens Curl cho tập tiểu luận của Nikos Salingaros Phản kiến trúc và chủ nghĩa giải cấu trúc (tr. 16) như sau: “Quyển sách này...cần phải được đọc bởi tất cả những ai gọi mình là kiến trúc sư...nhưng đó chỉ là một hy vọng đáng thương, bởi lẽ hấu hết các kiến trúc sư rất ít khi đọc, họ chỉ nhìn vào những hình ảnh đầy cám dỗ và nuốt chửng những khẩu hiệu...chỉ có rất ít những người còn có thể thiết kế công trình mang lại niềm vui và tăng cường sự sống thay vì đe dọa nó, những người đó hiểu rõ bản chất và vật liệu sử dụng trong công trình mà không cần gọi đến sự trợ giúp của những người kỹ sư hoặc những người làm trò uốn dẻo” [ii]

Trong toàn bộ tập tiểu luận này, Nikos Salingaros với giọng văn sắc sảo, uyên bác và đôi khi trào lộng đã phê phán một cách không thương tiếc chủ nghĩa giải kết cấu- deconstructivism (hay đôi khi còn được gọi là chủ nghĩa hậu cấu trúc – poststructuralism) trong kiến trúc. Ông bắt đầu tác phẩm bằng cách phản bác lại lập luận mà những người theo giải kết cấu thường sử dụng rằng những gì mà họ theo đuổi là nhằm tới một thế giới đa nguyên trong kiến trúc, trong đó mọi ý tưởng đều được chấp nhận, hay nói cách khác mọi “ism” đều là tương đối và những gì mà ông, Christopher Alexander và những người khác đề xuất là một cách giới hạn sự sáng tạo trong kiến trúc. Không phải như vậy! Để minh định lại vấn đề, ở phần đầu của tập tiểu luậns Salingaros đã sử dụng mô hình cái bàn cờ như một thí nghiệm tưởng tượng cho chúng ta. Ông (và chúng ta) hình dung khi đặt một cái bàn cờ giữa một bãi đỗ xe tối om và vắng lặng (bạn đọc hãy tưởng tượng một bãi đỗ xe xung quanh các trung tâm mua sắm lớn mà ta hay thấy trong phim Mỹ hay Châu Âu). Trong khi các ô của bàn cờ giới thiệu một bố cục hình học cố kết, mạch lạc và mang đầy đủ tính chất của một cấu trúc có sự sống (cần nói ngay sự sống ở đây không chỉ được nói đến như sự sống sinh học, mà là một dạng cấu trúc trong đó tất cả các thành phần liên hệ với nhau theo những quy luật có tổ chức) thì bãi đỗ xe ngoài kia là một loại không gian phi tổ chức, tuy rất rộng, rộng lớn hơn nhiều kích thước của bàn cờ nhưng lại nghèo sức sống, đơn điệu và quan trọng hơn hết là gần với cấu trúc của cái không-sống (tức là cái chết). Trong khi các bố cục trên bàn cờ cho phép diễn tả hằng hà sa số (thực chất là một số lượng vô hạn) các bố cục và tổ chức của các ô cờ, tức là của các cấu trúc sống động, thì cái bãi đỗ xe ngoài kia chỉ cho chúng ta một loại không gian giống hệt nhau. Vì vậy thể loại kiến trúc mà những người như Nikos Salingaros, Christopher Alexander và Léon Krier đề xuất và đang thực hiện là không những mang đầy tính sáng tạo mà còn đưa ra các giải pháp hầu như vô tận cho việc cấu thành một cấu trúc của sự sống[1].

Trong phần tiếp theo của tập tiểu luận Nikos Salingaros lật mặt nạ của lý thuyết gia hàng đầu của giải kết cấu- Jacque Derrida. Trong khi giới kiến trúc sư giải kết cấu và những người theo đuôi sùng bái coi Derrida như lý thuyết gia chủ chốt của giải kết cấu với những diễn ngôn bí hiểm, thì Nikos Salingaros đã chỉ ra rằng những gì mà Derrida rao giảng chỉ là một mớ hỗn độn những điều vô nghĩa được bọc trong các ngôn từ hoa mỹ. Mục đich tối hậu của giải kết cấu là phá tung kiến thức đáng tin cậy, phá tung cả niềm tin vào khoa học và nghệ thuật. Họ cho rằng cả khoa học cũng chỉ là một loại diễn ngôn của các thế lực nắm quyền hành và không có một thứ kiến thức đáng tin cậy nào có thể được sử dụng. Có thể thấy loại quan niệm hư vô tương đối chủ nghĩa này đã bị các nhà khoa học chân chính như Nikos Salingaros phản đối và chứng minh là sai lầm (trước khi nghiên cứu kiến trúc và đô thị Nikos Salingaros đã là giáo sư nghiên cứu về vật lý và toán tại Đại học Texas ở Austin, trong các tác phẩm của ông chúng ta đều thấy những lập luận vững chắc từ cơ sở toán học). Khi phủ định khoa học, nghệ thuật và tôn giáo Derrida đã gieo rắc một thứ triết học hư vô chủ nghĩa trên khắp thế giới và một trong những lĩnh vực mà nó tác động mạnh mẽ nhất là trong kiến trúc.

Các kiến trúc sư và lý thuyết gia giải cấu trúc như Daniel Liberskin, Philip Johnson, hay Bernard Tschumi đã sử dụng tư tưởng giải cấu trúc của Derrida để biện minh cho hành động của mình trong kiến trúc. Khi đọc đến những dòng tự sự dưới đây của Philip Johnson (người đã tuyên bố về sự ra đời của chủ nghĩa hiện đại vào những năm 1920 tại bảo tàng Nghe Thuật Hiện đại New York và cũng sau này là người tuyên bố sự khởi đầu của chủ nghĩa Hậu hiện đại cũng tại bảo tàng trên), khi ông ta theo chân của đoàn quân Wehrmacht của Hilter xâm lược Balan theo lời mời của Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Đức và đồng thời với tư cách là một cảm tình viên của Đảng Thanh niên Quốc xã Mỹ, người ta không khỏi lạnh gáy (tr. 112): “Mọi thứ đều đẹp đẽ và bảnh bao ở Berlin khi tôi từ giã nó...một lần nữa tôi đi qua đất nước mà chúng tôi đã cưỡi mô tô qua, từ những thị trấn ở phiá bắc của Warsaw...những bộ quân phục màu xanh của Đức khiến cho nơi đó có sắc thái vui tươi và hạnh phúc. Chẳng có nhiều người Do thái. Chúng tôi thấy Warsaw bùng cháy và thành phố Modlin bị đánh bom. Đó là một sự trình diễn đầy kích động”. Rồi Johnson viết tiếp “...ngôi làng bị đốt cháy thành than trong chiến tranh Thế giới thứ hai, tôi đã ở nhầm phe. Vì vậy chúng tôi không nói về điều đó nữa...Nhưng đó là một cảnh hãi hùng...Và nó rất đẹp. Nói ra điều đó thật kinh khủng, nhưng đống đổ nát thực là đẹp. Bạn không thể cưỡng lại nó. Bị mê hoặc với cảnh đổ nát, nó là vô tận”

Tại sao Johnson lại kể ra những lời lẽ như vậy, đây là lý giải của ông ta (tr. 111): “Cái nhìn triết học của tôi được kể từ thời điểm mà theo lối suy nghĩ khác biệt với cách hiểu cấp tiến, được chấp nhận và đúng đắn về chính trị mà chúng ta nương theo ngày nay...Không có gì gọi là cái Thiện hoặc cái Chân hoặc cái Mỹ. Tôi là một người theo thuyết tương đối, tôi là một người theo thuyết hư vô...Tôi học tiếng Đức khi tôi còn trẻ bởi vì tôi quan tâm tới việc đọc Nietzsche...Đó là vì sao ban đầu tôi bị hấp dẫn bởi Hitler, người đã hoàn toàn hiểu sai về Nietzsche, thực sự là vậy. Nhưng có đủ những sự tương đồng giữa họ vì thế tôi rất phấn khích về những thứ đó...Cái cây phả hệ của những điều quan trọng bắt đầu với nghệ thuật, không phải với việc tìm kiếm cái Chân, hay Khoa học, hay bất kỳ cái gì khác”.

Còn khi chúng ta đọc những gì mà lý thuyết gia trưởng của giải kết cấu là Tschumi viết trong bài báo “Bản ghi Manhattan”[2] và “Kiến trúc và Sự tách rời”[3] thì ta thấy gì (tr. 152): “Việc kết hợp khái niệm bạo lực vào trong cơ chế của kiến trúc—mục đích của lập luận của tôi—là cuối cúng nhằm đến một khoái lạc mới trong kiến trúc. Như bất kỳ hình thức bạo lực nào, hình thức bạo lực của kiến trúc cũng bao gồm khả năng thay đổi, khả năng làm mới... hai dạng của bạo lực môt phần cần phải được phân biệt, hai dạng mà không đặc biệt mang tính kiến trúc...Cái thứ bạo lực được lập trình này bao gồm những sử dụng, các hành động, và các sự kiện, và chương trình mà, theo một cách ngẫu nhiên hay theo thiết kế, là đặc biệt mang tính quỷ ám và phá hoại. Trong số đó có sự giết chóc, sự chôn cất, sự tra tấn, để mà trở thành những lò sát sinh, những trại tập trung hay các phong tra tấn”. Bên cạnh cái thứ ngôn ngữ điên khùng lảm nhảm của Tschumi—mà chúng ta có cảm giác xuất phát từ một người bị chấn thương tâm thần) cái mà chúng ta còn đọc được là những thứ như: tội lỗi, ám ảnh sex, bạo lực, v.v...Những thứ mà Nikos Salingaros gọi bằng những thứ đặc trưng cho thành phố của cái Chết (City of Diabolis) hay thành phố của ác quỷ khi ông đối lập với “thành phố của Thượng đế” (City of God).

Để trả lời cho câu hỏi, bổng nhiên bật lên trong đầu bạn đọc “Tại sao những thứ ghê tởm đó lại được tuyên truyền, giảng dạy, rồi được thực hành trong, trong kiến trúc? Được các ủy ban tuyển chọn kiến trúc uy tín lớn, các chính phủ tuyển mộ?” Nikos Salingaros đã cung cấp một lời giải thích choáng váng khi ông so sánh cơ chế hoạt động của virus máy tính với virus giải kết cấu mà Derrida gieo rắc. Cả hai loại virus đều sử dụng cùng một cơ chế. Virus máy tính là một đoạn mã chương trình không có nội dung, mục đích duy nhất của nó là lan truyền càng nhiều càng tốt, nhân lên gấp nhiều lần bản thân nó trong cơ thể của vật chủ (máy tính). Nó sử dụng một vỏ bọc hấp dẫn để các chương trình bảo vệ máy tính không nhận ra được nó là một đoạn mã độc. Virus của giải kết cấu cũng như vậy, bản thân nó không chứa đựng một nội dung thông tin nào hữu ích (ngoại trừ thông điệp chủ yếu là phá hủy, là bạo lực) nhưng nó đã sử dụng chiến thuật của ngành quảng cáo đó là được đóng gói trong các hình thức bóng bẩy, các trang bìa glossy của các tạp chi kiến trúc (nhân tiện đây nhắc lại lời của James Curl lúc đầu, các kiến trúc sư cả ta lẫn tây đều it đọc lắm, cái mà họ thường làm là xem những hình ảnh của tạp chí), được giới truyền thông ca tụng (tương tự như cơ chế lan truyền của virus máy tính thông qua mạng internet), được giới thiệu trong các hình thức hỗn độn, vô tổ chức nhưng bóng bẩy, đơn giản và dễ nhớ. Tất cả là nhằm mục đích đánh lừa đám sinh viên kiến trúc mới vào trường (để rồi từ đó nhồi sọ họ, tuyển mộ họ thành các lính xung kích giải kết cấu tương lai). Nhưng virus giải kết cấu không dừng lại ở đó, các nhân vật nổi đình nổi đám nhất như Tschumi hoặc Liberskin đã lần lượt chiếm lấy những vị trí lãnh đạo trong guồng máy đào tạo kiến trúc (chẳng hạn Tschumi trở thành trưởng khoa Kiến trúc Đại học Columbia), trong các ban biên tập của các tạp chí kiến trúc uy tín nhất và rồi để ngăn chặn những gì mà họ coi là mối họa của giải kết cấu, họ đã ngăn chặn và tiêu diệt những gì mà họ coi là đối kháng: những trường đào tạo kiến trúc truyền thống và cổ điển. Nikos Salingaros kể lại cho chúng ta sự đảo chính tại trường Kiến trúc truyền thống Viseu tại Bồ Đào Nha, với việc toàn bộ ban giảng huấn của trường bị sa thải và thay bằng đội ngũ những người giải kết cấu. Nikos Salingaros cũng nhắc cho chúng ta biết một sự kiện là số lượng các trường đào tạo kiến trúc cổ điển hoặc theo xu hướng cổ điển trên toàn bộ Bắc Mỹ hiện tại chỉ là 2 ½ (tr. 87) trong tổng số hơn 150 chương trình đào tạo kiến trúc (1/2 là do chương trình đào tạo kiến trúc của trường Yale chỉ chấp nhận ½ đào tạo theo hướng cổ điển, hai trường kia là Trường kiến trúc tại Đại học Miami, bang Florida và Đại học Notre Dame). Ở châu Âu có hai trường, nhưng một trường bị “ đảo chính” tại Viseu, Bồ Đào Nha, và một trường do Thái tử Charles, Vương quốc Anh thành lập nhưng bị bóp chết dưới bàn tay của các kiến trúc sư giải kết cấu.

Vậy liệu có phải Nikos Salingaros chỉ cho chúng ta một cái nhìn đầy bi quan về nên kiến trúc đương đại khi sự điên rồ, bạo lực, ám ảnh tình dục, quyền lực của những kẻ giải cấu trúc và hiện đại là thông trị. Không hề, phần cuối cùng của tập tiểu luận, Nikos Salingaros đã giới thiệu cho chúng ta bộ bốn cuốn sách đồ sộ “Về bản chất của Trật tự” của Christopher Alexander[iii]. Trong đó Alexander giới thiệu môt phương pháp kiến trúc đưa đến sự sống, một vũ trụ quan mới về thế giới đầy tính nhân văn, và một cách nhìn mới về đức tin trong đó kiến trúc đóng vai trò quan trọng như cung cấp một mỗi liên hệ nhân văn giữa con người và thế giới siêu nhiên. Trong buổi phỏng vấn Nikos Salingaros với Christopher Alexander, Alexander một lần nữa khẳng định về niềm tin của ông về một thứ kiến trúc phụng sự cho sự sống của nhân loại, đối lập với những tư tưởng bệnh hoạn của chủ nghĩa giải cấu trúc khi ông nói: “họ có thể lừa đươc nhiều người ở một số thời điểm nhưng họ không thể lừa được mọi người ở tất cả mọi thời điểm”

....Bởi vì Hoàng đế vẫn đang cởi truồng.

Tempe, Arizona 2.2012



[1] Nikos Salingaros cho chúng ta thấy cách giải thích toán học của Alexander (Về bản chất của trật tự, quyển 3, tr. 691): cho rằng số lượng các bố cục mang đến sự sống cho một công trình cỡ trung bình , một con số “khủng” hầu như là vô tận khi ta biết tổng số các hạt vật chất trong vũ trụ đã biết là khoảng chừng .Trong khi đó số lượng các giải pháp khả dĩ trong công trình đó là . Như vậy tỷ số giữa các số lượng mang đến sự sống và số lượng các phương án khả dĩ là một con số cực kỳ nhỏ, Alexander cho rằng còn nhỏ hơn hàng tỷ lần việc tìm một cây kim trong đống rơm (hiểu theo nghĩa đen). Điều này có nghĩa là nếu không vận hành đúng, khả năng đưa chúng ta tới một phương án sai là cực kỳ lớn. Điều thứ hai rút ra được từ tỷ số này là số lượng các khả năng đưa đến phương án giàu sự sống là hầu như vô tận.

[2] Manhattan Transcript

[3] Architecture and Disjunction



[i] Phản kiến trúc và chủ nghĩa giải kết cấu (Anti-architecture and deconstruction). Nikos Salingaros. Umbau-Verlag 2006.

[ii] Ý James Curl muốn nói đến các công trình của những người theo giải kết cấu như những người làm nghề uốn dẻo, chuyên vặn vẹo công trình.

[iii] Về bản chất của Trật tự (The Nature of Order). Christpher Alexander. Center for Environmental Structure 2002-2004.

1 nhận xét:

Mambo no.5 nói...

Đương nhiên luôn có cuộc chiến giữa 2 thế lực virus kiến trúc,nhưng xã hội phải luôn luôn chấp nhận,và mặc định rằng đó là 2 mặt đối kháng của một vấn đề,cái quyết định không phải là con đường mà mỗi cá nhân kiến trúc chọn,mà nhân tố chính là cái nào bình thường lâu hơn.

Kevin Lynch- Good City Form- Hinh thuc hoan hao cua thanh pho