Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012

Chất lượng cuộc sống từ thiết kế: Về nền khoa học của một cuộc cách mạng cấu trúc luận

Thay vì bản dịch cuộc tranh luận nổi tiếng—và nảy lửa, giữa Christopher Alexander và Peter Eisenman như đã định tôi trình làng kết quả khai bút (hoặc khai máy) đầu Xuân Nhâm Thìn bằng bản dịch quan trọng bài viết của Michael Mehaffy được đăng trên tạp chí điện tử Đối thoại Athen của Đại học Havard (đường dẫn http://athensdialogues.chs.harvard.edu/cgi-bin/WebObjects/athensdialogues.woa/wa/dist?dis=129). Bài viết đã đề cập đến những vấn đề quan trọng của nghề thiết kế xét từ gốc rẽ triết học. Có lẽ đây là bài viết làm sáng tỏ nhất các phương pháp thiết kế tùy ứng xét từ góc độ triết học—và tác giả đã điểm lại toàn bộ bước phát triển của tư duy triết học từ quan hiệm Hình thức lý tưởng của Plato, đến thuyết vật hình của Aristotle, cho đến những thành tựu gần đây nhất của vật lý học, khoa học thần kinh và ngụ ý sâu xa của nó với công tác thiết kế. Tác giả cũng đưa ra lời cáo chung hung hồn cho chủ nghĩa Hậu hiện đại và Giải kết cấu bằng việc cung cấp các chứng lý không thể bác bỏ của các ngành khoa học mới về sự phức tạp. Có thể coi đây là một bài báo về một thứ triết học ứng dụng trong thiết kế kiến trúc và quy hoạch (NH Ngọc).

Michael Mehaffy


(Nguyễn Hồng Ngọc dịch)

Tóm tắt (của tổng biên tập tạp chí điện tử)

Những câu hỏi căn bản do các nhà tư tưởng cổ Hy lạp nêu lên vẫn còn khẩn thiết với ngày nay. Chẳng hạn, sự căng thẳng giữa chủ nghĩa duy tâm của Hình thức độc lập của Plato, và thuyết vật hình về vật chất trở thành hình thức của bản thân nó của Aristotle đã phản ảnh hàng thế kỷ nghiên cứu khoa học về cấu trúc của các hệ thống sự sống trong tự nhiên. Nhưng tiến bộ khoa học cũng làm hé lộ những lỗi lầm và chỗ yếu căn bản của nền công nghệ mà chúng ta xây dựng nên cho bản thân mình. Đặc biệt liên quan đến các nhà lý thuyết thiết kế và những người làm nghề thiết kế theo chủ nghĩa hiện đại là các câu hỏi làm thế nào để cải tổ các khiếm khuyết được thừa hưởng trong môi trường của chúng ta và trong nền công nghệ của chúng ta. Nếu muốn thành công nhà thiết kế phải mở rộng quy mô trách nhiệm của họ và quan tâm tới sự lành mạnh của toàn bộ cộng đồng. Trong thế kỷ 20 nhà toán học-kiến trúc sư Christopher Alexander, cũng như học giả đô thị Jane Jacobs đã tái lập niềm hy vọng trong việc sửa chữa những thất bại của thời hiện đại bằng việc kết hợp các bài học học được từ tiến trình sinh học và những gì xuất hiện từ khoa học mới về sự phức hợp. Hiểu rõ tính chất phức hợp của các cấu trúc tự nhiên là một bước tiến chủ chốt về phía cải tạo và tăng cường các cấu trúc nhân văn của chúng ta.


Giới thiệu
1.1
Thay vì các tiến bộ kỹ thuật và xã hội của thời hiện đại- hoặc có lẽ chính xác hơn là bởi vì chúng- các câu hỏi cổ xưa của triết học thời kỳ Hellen vẫn còn thích hợp, thậm chí còn khẩn thiết hơn. Kiến thức đáng tin cậy là gì? Làm thế nào mà hành động biến thành các cấu trúc mới? Làm thế nào để chúng ta làm việc với những người khác và cùng nhau như một nền văn minh, để sản xuất và để duy trì một cuộc sống có chất lượng cao hơn?
1.2
Với các nhà lý thuyết thiết kế hiện đại, những câu hỏi trên là những câu hỏi năng động một cách đáng ngạc nhiên. Các chủ đề cũ dĩ nhiên đã được biết đến, đã được chuyển biến bởi một chuỗi dằng dặc các thế kỷ của những phát kiến khoa học về cấu trúc của tự nhiên. Những phát kiến này cũng giúp phát lộ những khiếm khuyết hằn sâu trong bản thân nền công nghệ hiện đại và khả năng tiếp diễn của nó khi bị lỗi và bị gián đoạn. Hầu hết các sự kiện làm nản lòng là việc chúng ta phải chứng kiến một loạt các chuỗi sự kiện không chủ định và các kết cục mang tính tự phá hủy lại đều bắt nguồn trực tiếp từ các ý định có vẻ là tốt nhất và các nỗ lực duy lý của chúng ta. Thay vì tìm kiếm niềm hy vọng với sự hoàn thiện của tinh duy lý của chủ nghĩa hiện đại, chúng ta bị bỏ lại với một tính chất “hậu hiện đại” của sự bất hoạt địa chính trị, sự tàn phá môi trường, và bóng ma đang lởn vởn của biến đổi khí hậu. Trong môi trường này, các ngành nghề chuyên môn về thiết kế hiện đại dường như giao động giữa sự tuyệt vọng mang tính yếm thế và niềm tin mù quáng vào một kiểu tư duy ma thuật.
1.3
Tuy vậy, như chúng tôi sẽ bàn ở đây, bên trong logic của các phát kiến khoa học—đặc biệt là những phát kiến gần đây về tính phức hợp có tổ chức – đã nằm sẵn những hạt giống của sự hồi sinh. Khi chúng ta bắt đầu xé bỏ dần tấm màn bí mật của các hệ thống sự sống, chúng ta có thể bắt đầu rút ra các bài học hữu hiệu cần thiết cho việc cải tổ nền công nghệ bị thất bại của chúng ta.
1.4
Có những phương cách mới để phân giải vấn đề và phân tích cấu trúc các vấn để của chúng ta. Có những cách hữu hiệu hơn để giải quyết chúng. Như học giả đô thị Jane Jacobs—nhà lý thuyết mà chúng ta sẽ bàn thảo chi tiết hơn dưới đây—phát biểu vào năm 1961, người ta không thể giải quyết một vấn để cho đến khi họ băt đầu suy nghĩ về nó một cách đúng đắn. Vì thế cách mà chúng ta suy nghĩ về, chẳng hạn, “loại vấn đề của thành phố” phải tương thích với cấu trúc của vấn để đủ cho chúng ta đi tới một chừng mực nào đó của giải pháp. Nếu nó không làm được vậy—nếu chúng ta tạo nên các lỗi lầm rõ ràng trong lối tư duy của chúng ta—chúng ta sẽ bị làm tàn hại bởi một chuỗi các thất bại không thể gỡ được và rất có thể là các thất bại mang tính thảm họa.
1.5
Vì thế chung ta trở lại với địa hạt không thể chối bỏ của triết học, và với nguyên tắc là “chúng ta tư duy, thì chúng ta tồn tại”. Với nghề thiết kế đó là hoạt động triết học mang tính nền tảng, một khi chúng ta sử dụng mục đich luận, nhận thức luận, bản thể luận và logic. Đó là một nền triết học mà, như chúng ta sẽ bàn thảo sau này, đã được biết tới và đã được chuyển biến bởi sự phát lộ mang tính cấu trúc của khoa học hiện đại—và ngược lại.
Sinh ra trong hang đá

2.1
Alfred North Whitehead đã có một quan sát nổi tiếng rằng truyền thống triết học phương Tây có thể đặc trưng như là “một chuỗi những cước chú về Plato”. Chủ nghĩa duy tâm của Plato—kiến giải của ông về lớp tĩnh của Hình thức nằm dưới muôn vẻ của hình thức mà chúng ta trải nghiệm—đã để lại dấu ấn sâu sắc trong tư duy phương Tây, và không ở đâu sâu sắc hơn các nghề thiết kế của thời hiện đại.
2.2
Chúng ta phải ghi nhận, dĩ nhiên, rằng Plato không phải là nguồn gốc thực sự của câu chuyện, và ông mang nợ sâu với chủ nghĩa duy tâm toán học của Pythagoras. Tương tự như vậy di sản của Plato đã làm thay đổi Aristotle và những môn đệ của ông. (như Betrand Russell đã phát biểu, Aristotle có thể xem như một “Plato với lối suy nghĩ bình dị”) Tuy vậy, không nghi ngờ gì nữa Plato đã đánh dấu giây phút quyết định trong lịch sử phương Tây, hay đúng hơn có lẽ lịch sử tư tưởng nhân loại. Và phép ẩn dự [của ông] đã làm nên giây phút đó.
2.3
Dĩ nhiên, đó là chuyện ngụ ngôn về Cái hang, được kể lại trong tác phẩm Nền Cộng hòa của Plato. Socrates nói, chúng ta giống như những người bị xiềng vào nền của cái hang, chỉ nhìn thấy ánh phản chiếu chập choạng, hay thay đổi luôn luôn trên bức tưởng hang trước mặt chúng ta, hình ảnh phản chiếu do những người điều khiển con rối ở phía sau, chiếu lên từ ánh sáng của một ngọn lửa lớn. Chúng ta không thấy sự thực, các đối tượng bất biến được giữ bởi người điểu khiển rối, không phải bởi ngọn lửa—thậm chí còn kém hơn thế, chúng ta không thấy mặt trời rực rỡ ngoài hang. Vì thế kiến thức của chúng ta về thế giới tự nhiên và các đối tượng của nó chỉ xuất phát tử một chuỗi các phản chiếu phù du—chỉ là thoáng qua—của thực tại, của chân lý vĩnh cửu, mà chúng ta chỉ có thể phát hiện một cách chậm chạp, thông qua một kiểu “nhô/trồi dần” ra khỏi hang sâu. Kiểu trồi dần lên đó bắt đầu khi chúng ta được giải phóng khỏi xiềng xích, và rồi nắm lấy được các con rối của người điểu khiển rối.
2.4
Những đối tượng đó là, như người học triết đều biết, eide của Plato hay Hình thức: các cấu trúc không nhìn thấy được, nhưng chính là cấu trúc tuyệt đối “thực” vốn tạo nên các hình bóng, cac nhận thức phù du của kinh nghiệm thường ngày. Chúng là, như chúng ta sẽ biết sau, các cấu trúc hình học bất biến và vượt thời gian, mang theo các ngụ ý thẩm mỹ và đạo đức. (Chính ở đây chúng ta cảm thấy rõ rệt nhất chủ nghĩa duy tâm toán học của Pythagoras). Đó là sự thống nhất được phát hiện giữa Thiện, Chân và Mỹ.
2.5
Vì thế câu chuyện ngụ ngôn thể hiện lời giải thích của Plato về vấn đề trung tâm của nhận thức luận: tính hay thay đổi của thể giới quanh chúng ta, tính đứt đoạn và có vẻ phi trật tự của nó, và tính không hoàn thiện và ngay cả khiếm khuyết của kiến thức của chúng ta về nó. Cái mà chúng ta gặp trên thế giới chỉ là một chuỗi các hình ảnh phản chiếu của một thực tại sâu xa nhưng không phải là không biết được—chính là cái thực tại có trật tự và mang tính nền tảng.
2.6

Nhưng như các nhà triết học sau này đã chỉ ra, chủ nghĩa duy tâm của Plato đã bỏ vấn đề nhận thức luận sang một địa hạt khác, tuy vậy lại không thể giũ bỏ khỏi nó. Sau hết, chẳng thể nào biết được làm sao để thiết lập thực tại của eide, để rồi đoan chắc về tính bất biến và hoàn thiện của chúng. Thậm chí nếu chúng ta kiểm nghiệm sự tồn tại của chúng, có khi nào chúng lại trở thành một kiểu hình bóng theo cách riêng của chúng? (Như chúng ta sẽ thảo luận đó chính là kiểu bức tranh mà khoa học hiện đại sẽ cung cấp).
2.7
Aristotle- người học trò của Plato vẽ nên bức tranh trong một thứ ánh sáng khác—mặc dù ông vấn mang nợ rất nhiều từ người thầy của mình. Trong lý thuyết về vật chất- hình thức (hylomorphism)- lý thuyết về vật chất hylo, có được hình thức morphe – mỗi quan tâm chủ chốt của ông vẫn là giải thích sự kiện là nhiều đối tượng cùng có chung hình thức—rất nhiều cây có hình thức của cây, và những thứ tương tự. Nhưng với Aristotle, hình thức không tồn tại ở những địa hạt siêu việt hoặc không nhìn thấy được, mà chúng thuộc về bên trong đối tượng, như là một trường hợp của một thực tại-đang trở thành phổ quát tiềm năng– ông cho rằng nó chính là thứ bao gồm luôn bản thể của nó.
2.8
Thêm vào đó đó là một quá trình có thể lặp lại theo nhiều quy mô khác nhau: bản thể ở một quy mô này trở thành vật chất ở quy mô khác. Chẳng hạn, vật chất của một cái nhà chẳng hạn- gạch của nó có thể nhận lấy hình thức tam giác nơi trán tường, hoặc hình lập phương ở trên tường. Đến lượt mình, các hình thức có thể trở thành vật chất hợp thành cho các hình thức khác: một ngôi nhà, một thành phố, v.v...
2.9
Trong hình thức cấu trúc luận thô sơ này- mà cũng giống như Plato, sau này sẽ trở thành có ảnh hưởng lớn- Aristotle bắt đầu mô tả logic của mereology: cách thức mà các phần liên quan đến toàn thể. Đây là chủ đề mà chúng ta sẽ trở lại như là vấn đề trung tâm của thời hiện đại—khi công nghệ của thời hiện đại đã phóng đại lên số lượng của các thành phần, và tính chất phức hợp của mối quan hệ giữa chúng.
2.10
Như đã nêu, cả Plato và Aristotle đều mang nợ nhiều tới Pythagoras và thể loại “âm nhạc của các quả cầu” mang tính toán học của ông- niềm tin của ông vào sự tỷ lệ chính xác nằm dưới các cấu trúc có trật tự của vũ trụ và thực chất là trật tự của tất cả những gì là tốt và đẹp. Vì thế các thuộc tính toán học của hình thức—tỷ lệ của chúng, sự gắn bó của chúng với các quy luật toán học bất biến, vân vân—đều được xem là nền tảng. Thực tế là năm khối đặc đều được phát hiện bởi Pythagoras và những môn đệ của ông giờ lại được gọi là “các hình khối Plato”
2.11
Tuy vậy, trong trường hợp của Plato, các hình thức hình học là ngoại lai, một phần của thực tại siêu việt, trong khi với Aristotle chúng là nội tại, là các phần cấu trúc căn bản mang tính phổ quát của bản thể. Sự chuyển dịch sang cấu trúc của kinh nghiệm thường ngày được xem như một sự kiện lớn lao trong triết học và đã mang lại cho Aristotle danh hiệu “người cha của chủ nghĩa kinh nghiệm”. Nhưng điều quan trọng với cuộc thảo luận của chúng ta là, nó là một thứ chủ nghĩa kinh nghiệm theo một cách không kém Plato gắn chặt vào “chủ nghĩa chính thống của hình thức”. Trong cả hai trường hợp, các phạm trù của hình thức (dù là được coi như các hình thức lý tưởng hoặc là các hình thức phổ quát) đều là các thành phần kết tụ và cơ bản.
2.12
Đây là quan niệm về hình thức mà, trong cả hai trường hợp, xem một hình thức đặc biệt như một cách giản lược tới các hình thức đơn giản hơn, và cuối cùng tới một tập hợp vĩnh cửu các hình thức toán học và các tỷ số toán học. Nó cho rằng hành động tạo ra hình thức là nghịch đảo: một loại quá trình mang tính phả hệ của việc áp dụng các cấu trúc chính tuân theo các quy luật đúng đắn về tỷ lệ, tỷ xích, sự phù hợp và những thứ tương tự-- nếu áp dụng một cách đúng đắn sẽ tạo ra Thiện, Chân, và Mỹ như là một phần của một quá trình theo trật tự duy nhất.
Chủ nghĩa duy tâm và quan niệm vật chất- hình thức trong lý thuyết hiện đại thời kỳ đầu

3.1
Quan niệm mang tính giản yếu về cấu trúc như vậy đã giữ vị thế thống trị trong truyền thống sau này của khoa học phương Tây và cung cấp khuôn khổ tinh thần cho việc giải mật một chuỗi dài các bí mật đáng kinh ngạc của tự nhiên -- ở đây chưa nói gì đến các tiến bộ phi thường trong công nghiệp sinh ra. Nhưng nó dần dà trở nên rõ ràng rằng cái chủ nghĩa giản hóa đó cũng là, như chúng ta sẽ bàn ngay đây, không phải là toàn bộ câu chuyện, và một số phần nhỏ bị bỏ qua là thực sự quan trọng hơn ta nghĩ—một sự hé lộ mà ngày nay chúng ta đang nắm lấy.
3.2
Cùng lúc đó, quan niệm giản hóa luận mang tính kết cấu này đã ngự trị các thế hệ kiến trúc sư và nhà thiết kế sau này—và cả các nhà lý thuyết có ảnh hưởng lớn nhất. Ví dụ, có thể thấy trong các tác phẩm của Vitruvius trong thời kỳ Cổ diển, và lý thuyết của ông về kiến trúc như là sự bắt chước tự nhiên và các kiểu mẫu cơ bản của nó—đạt đỉnh cao trong khái niệm của ông về “Một cá nhân kiểu Vitruvian”, sau này được Leonardo da Vinci vẽ nên; mang hình hài của con người, được phân thành hình vuông và hình tròn. Nó cũng có thể được thấy trong luận văn thời Phục Hưng của Alberti De Re Aedificatoria gợi lại Plato, Aristotle, và Vitruvius, và được mô tả như trật tự cơ bản của các hình tròn, hình vuông và mối quan hệ hài hòa giữa chúng.
3.3
Thực chất cùng quan niệm giản hóa luận này có thể được thấy trong các tài liệu của những người theo chủ nghĩa Hiện đại thời kỳ đầu—chính họ đã mang cái giản hóa luận này lên một tầm mức cực đoan nhất. Có lẽ nó đã phản ảnh một sự quá mức tự tin vào thế ký 19, là những tặng vật của thời kỳ hiện đại, biểu hiện tính nghiêm túc logic và tinh thần tiến bộ của thời kỳ Ánh sang, đã cuối cùng mang tới lời hứa cuối cùng của tinh thần duy lý thời kỳ Hellen. Sự tưởng thưởng đã ở tầm tay.
3.4
Dưới đây là lời phê bình của Le Corbusier với kiến trúc Gothic, biểu hiện một luận điểm theo lề lối Aristotle, rằng về mặt bản chất trào lưu Gothic đã có quan niệm vật hình luận sai lầm:
Kiến trúc Gothic về căn bản không dựa trên hình cầu, hình nón, và hình ống. Chỉ có gian giữa của giáo đường là biểu hiện của hình thức đơn giản, nhưng lại là kết quả của một hình học phức hợp của trật tự thứ hai (các vòm cuốn giao nhau). Vì nguyên nhân đó mà một thánh đường không phải là đẹp lắm và chúng ta tìm kiếm trong nó sự bổ sung của một thứ chủ quan bên ngoài nghệ thuật tạo hình. Một thánh đường làm chúng ta quan tâm như là một giải pháp tài tình cho một vấn đề phức tạp, nhưng một vấn đề mà trong đó các định đề đã được nêu ra một cách kém cỏi bởi lẽ chúng không xuất phát từ các hình thức nguyên thủy vĩ đại.
(Le Corbusier 1924)
3.5
Chủ nghĩa chính thống về hình học thể hiện trong cụm từ “các hình thức nguyên thủy vĩ đại” thật đáng chú ý. Nhưng nếu “một thánh đường không phải là đẹp nhất” thì cái gì mới là đẹp đây, và tại sao? Với Le Corbusier, đó là những cấu trúc lớn lên trực tiếp từ các hình khối Plato của các phép tính toán học—giống như các thang tời trong các lò chứa ngũ cốc ở Mỹ.

Vì thế chúng ta có các thang tời trong các lò chứa ngũ cốc ở Mỹ, CÁC TRÁI NGỌT ĐẦU TIÊN được phóng đại của thời đại mới. CÁC KỸ SƯ MỸ LÀM CHOÁNG NGỢP TRẢI NGHIỆM KIẾN TRÚC CỦA CHÚNG TA VỚI CÁC TÍNH TOÁN CỦA HỌ [Sic].
(Le Corbusier 1924)

3.6
Bức tranh này là sự tương phản thường thấy của chủ nghĩa Hiện đại và chủ nghĩa Cổ điển. Chắc chắn rằng cái đầu nhấn mạnh đến việc loại bỏ trang trí để thay bằng một sự tán dương mang tinh thần tối giản của logic máy móc. Nhưng cách hiểu kiến trúc như một sự bố cục các hình học cơ bản, bị chi phối bởi các luật toán học phi thời gian của Pythagoras vẫn là xuyên suốt. Thực chất, câu chuyện trung tâm của chủ nghĩa Hiện đại về “cái kết thúc lịch sử” –niềm tin của nó trong sự đến đích, vượt khỏi tính hỗn độn và ngẫu nhiên, được mang đến bởi logic và luận lý cho một thời kỳ mới của sự hoàn thiện cơ giới, giờ có thể được coi như chủ nghĩa duy tâm thời kỳ Hellen. Cuối cùng thì chúng ta có thể đạt được trật tự duy lý của công trình xây dựng, của máy móc, của nền văn hóa của chúng ta trong một thời kỳ hiện đại duy lý đầy vinh quang.
Tính bất toàn, Không chắc chắn và Sự phức hợp
4.1
Thế mà chính tại thời điểm các kiến trúc sư hân hoan tán dương dự thắng thế của lý trí trong một thời kỳ hiện đại mới, các nhà khoa học và các nhà triết học vẫn còn bận rộn trong việc tạo ra các phát kiến mới mang hiệu ứng tàn phá lên nó [tính hiện đại-ND]. Những phát kiến này đã tới một cách không tránh khỏi từ việc giải mật cấu trúc phức hợp của sự vật, trong các lĩnh vực như sinh học, vật lý, lý thuyết thông tin và—làm nản lòng nhất cho các nhà duy tâm logic—lại từ bản thân toán học và logic.
4.2
Vào năm 1912, Whitehead và một cộng sự của ông tại đại học Cambridge là Bertrand Russell trong luận văn kinh điển Principia Mathematica đã cố gắng đặt ra một phác đồ tối giản luận cho toàn bộ logic và toán học. Công trình của họ được coi như một trong những đóng góp quan trọng nhất về mặt logic toán từ thời Aristotle. Nhưng với Kurt Gödel trong một bài báo chấn động thế giới vào năm 1931 đã tài tình quật lại sự khéo léo bằng cách sử dụng hệ cơ giới của sơ đồ logic của Whitehead và Russell để phản bác chính nó—chính xác hơn, để chứng mình rằng thay vì mục đích đã định của họ, và bất kể uy tín của nó như thế nào, công việc của họ là và phải là “bất toàn” một cách logic. Thêm vào đó, ông đã chứng minh được rằng bất kỳ hệ thống nào như vậy, phải là ít nhất ở một mức độ nào đó là “bât toàn”.
4.3
Ẩn ý của sự kiện này, được phát triển thêm trong các tài liệu và trong các công trình triết học sau này thực sự gây choáng váng. Đó là không thể có một bản thiết kế nào cho tự nhiên, không thể có một mô hình tối giản nào để có thể giải thích hoàn toàn cấu trúc logic của sự vật. Dường như đây là một đòn trí mạng cho chủ nghĩa duy tâm Plato, và không kém phần trí mạng với thuyết vật hình của Aristotle.
4.4
Cùng thời gian này, các nhà vật lý đã quan sát được những hành vi lạ lùng ở mức độ hạ nguyên tử với những ngụ ý quan trọng cho toàn bộ cấu trúc tự nhiên. Thay vì làm an lòng chúng ta, theo kiểu Plato, về một thực tại bất biến, các kết quả thí nghiệm dường như chỉ ra tính vô thường, tính biến động không ngừng, và ngẫu nhiên. Với mỗi một phát kiến mới, vũ trụ có vẻ như càng phức tạp hơn, càng giống hơn một trận mưa của các hạt năng lượng (hay phải chăng là các sóng?) mà chỉ hợp lại một cách tạm thời thành “sự vật” hoặc hình thức, rồi thăng/bay sang để hợp thành các sự vật khác, theo sau các quy luật-như kiểu mẫu phức hợp. (Có vẻ như vọng lại các thuyết phi Platonic trước kia trong tư tưởng thời Hellen, như thuyết động lực của Heraclitus).
4.5
Những bài học từ sinh học không kém phần gây sửng sốt, và đáng làm cho những người theo giản hóa luận chính thống phải khiêm tốn hơn. Hóa ra chúng ta gồm các xã hội có hàng nghìn tỷ thành viên của những vi sinh vật độc lập, cùng hợp tác với nhau, chỉ một vài trong chúng sống lâu hơn bảy năm. (Thực ra mỗi một tế bào bao gồm hai tổ chức hữu cơ cộng sinh tách biệt với các lịch sử di truyền khác nhau). Trong khi chúng ta dường như được tạo ra từ các quá trình đơn giản, toàn bộ sơ đồ lại không phải là một bức tranh rõ ràng của một thời kỳ mới, mà là sản phầm của sự biến đổi được mã hóa và tương tác của sự phức hợp diệu kỳ. Các tế bào thay vì được hình thành “từ trên xuống” theo một sơ đồ phân cấp, dường như lại biết cách làm thế nào để “tự tổ chức” thành các kiểu mẫu toàn cục chung mà tương đồng với các hình thức nguyên thủy của toán học, nhưng không phải bắt chước chính xác như thế. (Chẳng hạn, mắt chúng ta có hình dạng giống hình cầu, nhưng hoàn toàn không phải là hình cầu, cho cấu trúc của mắt chúng ta, và hình dạng như hình trụ cho các ngón tay của chúng ta, v.v...)
4.6
Bản thân Whitehead đã góp phần tạo nên những đường nét cơ bản của triết học “cấu trúc luận” (hoặc “quá trình”) bắt nguồn từ việc thao tác với các quá trình theo thời gian – cái động lực của tính đa dạng vô cùng tận của hình thức, những thứ mà sản phầm của chúng mang dấu ấn lịch đại (xảy ra theo thời gian- ND) và quá trình tiến hóa. Trong công trình sau này của ông, ông đã vạch ra một thứ “triết học quá trình” có thể giải thích các hình thức cụ thể-như đám mây của tự nhiên mà lại phù hợp với bức tranh mới xuất hiện từ các khoa học—được miêu tả trong các tác phẩm như Quá trình và Thực tại và Khoa học và Thế giới Hiện đại. Ông đã tìm ra cách lý giải mối quan hệ của ý tưởng của chúng ta với những thực tại của quá trình và mối nguy trong việc lẫn lộn chúng trong các tác phẩm như Các hình thức của Tư tưởng và Chuyến hành trình của Tư tưởng.
Sự sụp đổ Hậu Hiện đại

5.1
Dần dà, dĩ nhiên là vậy các tư tưởng này thẩm thấu dần vào cuộc sống thường ngày—và, cuối cùng tới cách chúng ta hiểu về văn hóa, nghệ thuật và kiến trúc. Chúng ta thây rằng chúng ta đang sống trong một thế giới ít duy lý hơn, rằng các sự kiện chính trị ngẫu nhiên có thể tạo nên quá trình hủy diệt hạt nhân, hoặc các lực lượng kinh tế không định trược có thể gây nên suy thoái toàn cầu. Tệ hơn nữa, cấu trúc công nghệ đẹp đẽ của chúng ta có thể gặp sự cố theo một cách khủng khiếp nhất nhưng lại không thể lường trước được, mà hệ quả không phải là một thứ gì không tưởng mà là ô nhiễm, là sự tàn phá môi trường inh thái, là biến đổi khí hậu và sự suy sụp kinh tế.
5.2
Một loạt những thất bại mang tính thảm họa của các dự án kiến trúc và đô thị hiện đại—được phê bình một cách thấu đáo bởi các học giả như Jane Jacobs—đã đạt tới đỉnh điểm khủng hoảng vào những năm 1960 và 1970. Những thành công của chủ nghĩa duy lý và logic đã đạt cực điểm trong công nghệ hiện đại của việc chế biến thành phố: sản phẩm mà nó cung cấp không phải là chủ nghĩa không tưởng mà là sự phân liệt, sự vô trật tự và suy tàn. Có lỗi lầm trong một hệ thống trật tự gọn ghẽ-- và nó không chỉ là ở sự áp dụng hời hợt bên ngoài mà thực ra có thể xem như nằm trong cái gốc logic của nó. Sự phê phán của Gödel dường như được áp dụng vào mọi logic của chủ nghĩa hiện đại: nó là sai lầm chết người, là thảm họa, là bât toàn.
Sự phản ứng lại chủ nghĩa hiện đại được gọi, dĩ nhiên là “hậu hiện đại”: được đánh dấu bằng sự bỏ rơi nhu cầu căn bản của quan niệm về hình thức, và là một sự trở về với chất lượng mang tính lịch đại (tức là trải theo thời gian – ND) của ngôn ngữ và tự sự. Kiến trúc có thể là một loại câu chuyện mà một nền văn hóa kể về bản thân nó: mang tính biểu tượng cao, mang tính tự-tham chiếu, châm biếm. Sự thất bại của tinh thần duy lý thời đại Hellen cũng sẽ trở thành một phần của câu chuyện.
5.4
Sự phê bình hậu hiện đại được thuật lại đặc biệt rõ bởi kiến trúc sư Rem Koolhaas trong tiểu luận của ông “Bất kể chuyện gì Xảy ra với Đô thị học”:

Lời hứa thuật giả kim của chủ nghĩa Hiện đại—mong chuyển số lượng thành chất lượng thông qua sự trừu tượng hóa và sự lặp lại—đã trở thành một thất bại, một trò chơi xỏ: phép ảo thuật không thành. Tư tưởng của nó, thẩm mỹ của nó, các chiến lược của nó đã kết thúc. Cùng nhau, tất cả những nỗ lực cố tạo một sự khởi đầu mới chỉ làm tai tiếng thêm ý tưởng về một sự khởi đầu mới. Một nỗi hổ thẹn tập thể trong sự thức tỉnh về cái thảm bại này đã để lại một hố bom sâu hoắm trong sự hiểu biết của chúng ta về tinh thần thiện đại và sự hiện đại hóa... Từ đó, chúng ta đã và đang tham gia vào hai hoạt động song song: ghi chú sự kính sợ choáng ngợp của chúng ta với thành phố hiện tại và cùng lúc đó, cười nhạo nghề đô thị vì sự tồn tại của nó, phá hủy nó trong sự khinh miệt của chúng ta với những ai đã quy hoạch (và tạo nên sai lầm khủng khiếp trong quy hoạch) các sân bay, các Thành phố mới, các thành phố vệ tinh, các xa lộ, các tòa nhà chọc trời, các cơ sở hạ tầng, và tất cả các thảm bại khác của sự hiện đại hóa.
(Rem Koolhaas 1995)
5.5
Cái chủ nghĩa hậu hiện đại trong nghệ thuật và kiến trúc này đã được phản chiếu bởi tinh thần hậu kết cấu chủ nghĩa trong triết học, được xây dựng nên trên nền tảng thực nghiệm và thậm chí sự nghi ngờ mang màu sắc logic của quyền lực của kiến thức và lý trí. Cũng như vậy nó có cội rễ sâu xa trong lịch sử triết học phương Tây. Nó mang nợ đặc biệt tới triết học trước kia của Immanuael Kant về chủ nghĩa Duy tâm siêu nghiệm—bản thân nó là sự đối đầu với giới hạn hiển nhiên của kiến thức.
5.6
Chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm của Kant có thể xem như một loại ngược với chủ nghĩa duy tâm của Plato. Chúng ta trải nghiệm một sự vật nào đó gần với các hình thức Platonic, theo một nghĩa nào đó—trong các cấu trúc kinh nghiệm của lời nói và tư tưởng—nhưng chúng được coi như các phạm trù tiên nghiệm (a priori) của trí óc, nhưng lại không, theo bất kỳ một nghĩa nào bắt nguồn từ sâu thẳm thực tại của thế giới—cho dù chúng [các cấu trúc tiên nghiệm – ND] có tồn tại, cũng không bao giờ có thể được chúng ta hiểu ngoại trừ thông qua cùng một phạm trù của trí óc. Vì thế, nếu chúng ta muốn trở nên logic, chúng ta phải bắt đầu ở nơi đó trong địa hạt của trí tuệ-- và chúng ta phải chắc chắn bị kẹt trong đó. Mãi mãi bản thể luận bị bao bọc bởi nhận thức luận.
5.7
Nhà Hậu cấu trúc luận bước thêm một bước nữa xuất phát từ chủ nghĩa cấu trúc ngôn ngữ trong nhân học. Nhưng trong khi các nhà cấu trúc chủ nghĩa như Saussure và Levi-Strauss coi ngôn ngữ như một công cụ có thể dát mỏng cho việc cố định/neo một ý nghĩa ngoại tại bên trong một cấu trúc văn hóa, các nhà Hậu kết cấu chủ nghĩa như Derrida và Foucault xua đuổi đi toàn bộ ý nghĩa ngoại tại, và thay vì thế tập trung vào các phương thức tương đối mà trong đó các nền văn hóa và các tiểu-nhóm văn hóa cấu trúc nên tự sự của “ý nghĩa” (hoặc kiến thức đáng tin cậy, hoặc chân lý) như là một quá trình cấu trúc tổng hợp. Gợi lại sự xung khắc giữa Plato và Aristotle, họ bỏ qua bất kỳ khái niệm tại ngoại nào của ý nghĩa, và (nếu họ có xem xét chăng đi nữa) coi nó [khái nhiệm tại ngoại-ND] như một cái gì đó được thừa hưởng bên trong cấu trúc, ở tính chất khác biệt của cấu trúc, ở tự bản thân ngôn ngữ.
5.8
Các nhà Hậu kết cấu chủ nghĩa cũng nhìn thấy cách mà các nhóm khác nhau sử dụng quá trình cấu trúc để nắm được việc kiểm soát chính trị của nhóm khác, bằng việc áp đặt lên tự sự cấu trúc mà theo đó các ý nghĩa văn hóa được định nghĩa. Vì thế giờ đây nhiệm vụ của nhà triết học là phân tích kết cấu này và giải kết cấu đó thành các thành phần sao cho bộc lộ các công năng ý nghĩa của nó. Chúng ta có lẽ không thể xác định được phẩm chất tương đối của một tập hợp ý nghĩa này so với tập ý nghĩa khác—thực chất là một nhóm “đặc quyền” những kẻ cấu trúc [nên ý nghĩa-ND] này so với nhóm khác—nhưng chúng ta chắc chắn có thể phát hiện được quyền cai trị của một nhóm và cấu trúc [ngữ nghĩa –ND] của nó (chẳng hạn, quyền lực thực dân) này so với các cấu trúc của các nhóm khác (chẳng hạn, những nhóm người bản xứ).
5.9
Trong kiến trúc và nghệ thuật, thứ triết học này biểu hiện bản thân mình trong các hành động giải kết cấu các văn bản tự sự của quyền lực: biểu lộ cấu trúc của các nhóm tinh hoa nắm quyền, nhằm thúc dục thêm một thứ nghệ thuật giải phóng. Vì thế chúng ta có thể công kích sự tập trung quyền lực của các đại công ty—có lẽ tìm thấy nó giữa các nhóm khách hàng của chúng ta, nếu chúng ta là các kiến trúc sư—nhưng chúng ta có thể vẫn “giải kết cấu” cái thực tại này, và bộc lộ nó trong nghệ thuật của chúng ta. Thể loại nghệ thuật này có thể không siêu việt theo bất kỳ ý nghĩa siêu hình nào—mà giờ đây nó cũng chẳng còn tuyên bố nó mang ý nghĩa siêu hình nào nữa. Thay vì thế nó hàm ý đi tìm quyền lực cảm xúc từ chất hùng biện mang đặc tính thanh tẩy. Nếu chúng ta không thể sửa chữa được thế giới, ít nhất chúng ta có thể hiểu được cấu trúc ẩn sâu của nó và hân hoan tán dương sự hé lộ đó.
5.10
Chủ nghĩa Hậu cấu trúc vì vậy là một bước tiến hóa logic và là một tư sự mang tính cẩn trọng dựa trên quyền lực của lý tính. Cũng giống như công án Thiền [nguyên văn Zen koan- ND], nó dùng để ngăn chặn việc tuyên bố các ý tưởng của những ai áp dụng chúng quá máy móc—đặc biệt các tuyên bố của những người theo tư tưởng chuyên chế/tuyệt đối (bao gồm cả những người Tân Plato) về việc phải “theo điều đúng”. Nhưng ngoài việc miêu tả những giới hạn trên, nó không thể đi xa hơn việc giải thích cho chúng ta vấn để gì thực sự đang diễn ra với ngôn ngữ, và mối quan hệ cấu trúc của nó với bức tranh khoa học của tự nhiên—đặc biệt là hiện tượng mang tính hiển nhiên của trí tuệ sinh học.
5.11
Thực chất có những sai lầm căn bản mang tính logic của những nhà Hậu kết cấu mà khiến nó, thỏa hiệp với khả năng đưa ra một lời giải thích có ích cho vấn đề điều gì đang thực sự diễn ra trong cấu trúc của các sự vật—ít nhất bên ngoài sự hạn hẹp của sáng tạo văn hóa. Trong hình thức logic tinh khiết nhất của nó, học thuyết này chống lại ý nghĩa ngoại tại và sự thật, cuối cùng lại mâu thuẫn với bản thân nó. Như Gödel đã chỉ ra bất kỳ toan tính nào—thâm chí là tự tham chiếu như những nhà Hậu kết cấu—cũng phải trỏ về/liên hệ tới cái bên ngoài, với đủ mọi loại dễ tổn thưởng logic mà chúng chắc chắn đang rình chờ. Vấn để không phải ở chố các ngoại tại này trở thành chính nó.
5.12
Sự lẫn lộn mang tính phạm trù này đặt các nhà Hậu cấu trúc chủ nghĩa với sự bất khả trong việc hình thành một lý thuyết rõ ràng về ngay cả nhửng gì mà họ đang làm, và làm thế nào nó áp dụng được với bất kỳ “vật” gì—ngay cả ở bản thân cấu trúc của họ-- ngoài trò chơi từ ngữ tinh vi. Nhưng quá trình tìm tòi khoa học yêu cầu chúng ta xác nhận một mô hình cấu trúc của “điều gì đang thực sự diễn ra”—và rồi kiểm nghiệm mô hình đó cho các thuộc tính có phù hợp hay không, khả năng sửa chữa [mô hình-ND], khả năng tinh chỉnh. Vì vậy chúng ta cần phải có một siêu mô hinh của sự trung thực, hoặc là những gì mà có người gọi là “vòng xuyến của sự thật”—vốn không phải là cùng một loại với cái trung khớp tuyệt đối với cái sự thật. Vì vậy trong cái hình thức tất cả-hoặc-không có gì, học thuyết nhận thức luận của chủ nghĩa Hậu kết cấu ở mức độ tốt nhất bị giới hạn một cách nghiêm trọng trong tính có ích thực nghiệm của nó, ở mức độ tồi nhất, là không thể hòa giải một cách căn bản với các đề án khoa học.
5.13
Một ai đó có thể từ chối giá trị của một dự án khoa học như vậy, tất nhiên—hoặc giống như nhiều nhà Hậu kết cấu chủ nghĩa tranh luận, chỉ là một tự sự được cấu trúc nữa mà thôi. Nhưng đó chỉ là cái vẻ thờ ở hấp dẫn đối với hoàn cảnh cấp thiết ở ngay trước mắt. Chúng ta thà giống như các hành khách trên cái xe mà chung ta tự tạo ra, và chúng ta thấy thật khó mà điều khiển tay lái. Nên chăng chúng ta dừng bẻ lái luôn, bởi vì chúng ta tìm thấy có một số sai sót trong quyển sách hướng dẫn của chiếc xe? Điều này dường như, ở mức tốt nhất là quá-mức hành động, còn ở mức tồi tệ nhất, là một loại nhầm lẫn logic đang lan tràn khắp nơi về vai trò hữu ích của ngôn ngữ, dù có là không hoàn thiện đi nữa. (Chúng ta sẽ bàn thảo về tính “không hoàn thiện hữu ích” này ở phần chi tiết dưới đây).
5.14
Thực chất một bức tranh mạch lạc hơn về hoàn cảnh trước mặt đang được các lĩnh vực như khoa học thần kinh và lý thuyết thông tin mang tới. Chúng mang lại những kiến giải thâm sâu về sự làm việc của ngôn ngữ và bộ não, cũng như vị trí của chúng trong cấu trúc tự nhiên. Chúng tôi đề xuất rằng những tiến bộ này chung quy là một luận điểm được làm hồi sinh của chủ nghĩa Cấu trúc về cái gì đang thực sự diễn ra—mang theo với nó một loạt những ẩn ý mới thực sự thâm thúy.
Chủ nghĩa Kết cấu được xét lại

6.1
Albert Einstein đã có nhận xét nổi tiếng rằng “cái điều không thể lĩnh hội được về vũ trụ là nó có thể lĩnh hội”. Thế giới không phải là một màn sương chẳng thể chọc thủng, cũng như chúng ta không phải là tù nhân ở bên trong và bên ngoài trí tuệ chúng ta. Thay vì thế, chúng ta có thể xé ra một phần đáng tin cậy (luôn luôn là tiểu phần không đây đủ) của cấu trúc của cái gì đang thực sự diễn ra, tới một mức độ ngoại lệ, thậm chí đáng kinh ngạc nữa. Đơn giản là tự nhiên không dễ dàng bỏ cuộc trong việc đưa ra những bí bật của nó, và quá trình tìm kiếm những gì đang diễn ra là quá vất vả. May thay cho chúng ta, quá trình này đã đạt đỉnh điểm trong những năm gần đây với một sự trùng khớp ngoạn mục, đồng thời cũng là hữu ích nhất.
6.2
Có lẽ không đâu mà những sự phát triển này đã có tác động thực tế như trong lý thuyết bộ phận-tổng thể (mereology). Hiểu biết của Aristotle về thuyết vật hình đã được làm sâu sắc thêm, và trong nhiều trường hợp tạo nên những bước ngoặt bởi hai thiên nhiên kỷ khám phá trong cấu trúc nguyên tử và phân tử. Không có một nơi nào thực sự cho bản chất cơ bản trong bức tranh này, cũng như không thực sự cần phải như vậy: vũ trụ là hoàn toàn có thể lĩnh hội được, nhưng theo một nghĩa quan trọng, là chuyển biến và quan hệ qua lại. Chúng ta sẽ bàn thảo thêm dưới đây về ý nghĩa đáng kể của sự kiện này.
6.3
Tương tự như vậy, có thể tạo nên một loại mô tả hữu ích tới cấu trúc của bộ não, và mối quan hệ tới một loạt các chức năng giải quyết vấn đề phong phú và chức năng mang tính đại diện của bộ não động vật (bao gồm cả não người). Chúng ta có thể ghi nhận mối quan hệ thú vị và cấu trúc hữu ích với các thuộc tính đồng đẳng của nó mà không cần phải để ý gì đến các giả định siêu hình hoặc mang tính bản thể luận.

6.4
Loại “Tân kết cấu chủ nghĩa” này (hoặc có thê gọi là “Cấu trúc chủ nghĩa Đối xứng” do những nguyên nhân sẽ thấy sau này) được phân biệt với chủ nghĩa kết cấu nguyên gốc chủ yếu bởi sự nhấn mạnh của nó vào quá trình, vào sự chuyển biến đối xứng phức hợp xảy ra trong nó. Như Jean Piaget, một nhân vật lỗi lạc của trường phái tư duy này nói vào năm 1968 “không có cấu trúc nào mà không có một kết cấu, một sự trừu tượng hoặc một nguồn phát sinh” hơn nữa như chúng ta sẽ thấy, hiểu biết mới về cấu trúc có thể được tìm thấy thậm chí một thánh đường cấu trúc cho giá trị, cho ý nghĩa, cho cơ chế đại diện, cho sự lựa chọn—những thứ mà được coi như đối nghịch với quan điểm cấu trúc-định luận. Thêm vào đó, những điểu được khoa học hiện đại phát hiện trong các cấu trúc mới này lại khiến mọi thứ trở nên ngày càng hấp dẫn hơn.
6.5
Chúng ta bắt đầu với quan điểm của các nhà Cấu trúc-Thần kinh học về bộ não con người. Những gì là đặc biệt hữu ích về bức tranh của sự vật là cấu trúc của bộ não và hoạt động của nó—chúng ta hãy giả định rằng nó tương đương với trí tuệ (ý nghĩ), nó được coi như ngoài quan niệm của ngôi thứ nhất của chúng ta—nó là một cấu trúc trong thế giới như bất kỳ cấu trúc nào khác, và không cần phải áp đặt một thực tại siêu việt nào khác cho trí tuệ, hoặc các hình thức lý tưởng, để giải thích cái gì đang thực sự diễn ra theo một cách đáng tin cậy. Cái địa hạt đó có thể hoặc không tồn tại, chỉ đơn giản là không cần phải tính đến từ quan điểm của sự vật.
6.6
Thêm vào đó, mối quan hệ giữa cấu trúc của bộ nào và toàn bộ thế giới có thể được xem như có cấu trúc quan hệ quan trọng. Vì nguyên nhân là có một đặc điểm cơ bản của sự đối xứng cục bộ. Đó là các cấu trúc của bộ nào có sự tương đương đồng đẳng cục bộ với cấu trúc của thực tại. Sự tương ứng này có nguồn gốc trong sự chuyển biến các cấu trúc thông qua sự tiến triển đối xứng, bắt đầu với những loại trực tiếp nhất (chẳng hạn, những sự lóe lên của một hoạt động tương ứng với các đe dọa ngay lập tức của thế giới bên ngoài) và tiến triển đến những đe dọa mang tính suy đoán cao hơn (chẳng hạn, các kiểu mẫu khó nắm bắt của hành vi mang màu sắc linh tính tương ứng với một đe dọa tiềm tàng có thể còn cách xa, như hành vi tránh né của đàn thú khi chỉ mới thoáng phát hiện kẻ săn mồi).
6.7
Một sự tương tự có thể được nhận thấy trong hình thức rõ ràng bên trong ngôn ngữ, cấu trúc của nó, và các quá trình cấu trúc của nó. Thực chất, chúng ta càng hiểu rõ về nó thì ngôn ngữ dường như càng trở thành một hình thức “phần mềm” chạy trên nền của phần cứng tâm thần của chúng ta, và có thể nói là, nó được viết trong hệ điểu hành của nó. Ngôn ngữ thể hiện tính “đối xứng hành tiến” (progressive symmetry) này- từ khả năng tạo sự phát âm bắt nguồn từ các kiểu mẫu của các sự kiện trong tự nhiên (ví dụ sự vuốt âm của khái niệm kỳ vọng và tò mò, đến sự ngắt âm của hành động) đến các thành phần từ vựng và ngữ pháp đối xứng tinh vi hơn nhằm mô tả các điều kiện phức hợp theo một cách tiếp diễn trong thế giới (bao gồm cả các cuộc thảo luận triết học phức tạp như buổi thảo luận này).
Ngôn ngữ như là Kiến trúc của cái có thể

7.1
Vì thế chúng ta đã đi tới khái niệm ngôn ngữ như một loại hình hoạt động tạo-mô hình—phản chiếu và mô hình hóa một phần của thế giới tự nhiên mà chúng ta quan tâm. Nhưng các mô hình này không phải là tĩnh tại, mà thực chất xác định lĩnh vực hoạt động và khả năng của chúng ta. Hơn thế nữa, khi hoạt động như vậy, chúng thực sự sinh ra khả năng mới, như một điểm đặc trưng thực sự logic của cấu trúc tự nhiên bên trong cảnh quan đó. Trong cái thế hệ đó các hạt giống của sự lựa chọn được gieo, đó là những gì thường được coi như ý chí tư do.
7.2
Đây là một điểm quan trọng nhưng thường ít được để ý. Để làm cho rõ ràng, chúng ta hãy xem một ví dụ. X bảo Y rằng Y có thể đón xe bus ở phía đường bên kia, nhưng chỉ khi đồng hồ của X vượt qua hai vạch. Y liền hỏi “Tôi có thể đón xe bus sau được không?” “Vâng”, X báo rằng Y có thể đón xe bus vào một tiếng sau, hoặc Y có thể đón xe bus khác ở cuối đường trong hai tiếng nữa.
7.3
X và Y vừa mới xây dựng một mô hình động về việc Y đón xe bus, mô hình này phù hợp và hữu ích vào ngày đó. Trong việc xây dựng mô hình đó, họ đã xác định các khả năng mới—và để làm như vậy, trong ví dụ quá đơn giản trên, họ đã thực sự sinh ra chúng.
7.4
Y không có khả năng nào đón được xe bus mà Y không biết là sẽ đến—hoặc chinh xác hơn, Y có một số lượng vô hạn các khả năng ngẫu nhiên nhỏ, bao gồm khả năng gặp xe bus đó vào giờ đó; nhưng cái khả năng logic là giống như hầu hết các khả năng khác, không băt được xe bus nào cả. Tương tự như vậy Y có thể phát hiện một mạng lưới các khả năng có thể khác mà có thể tạo nên chỉ thông qua quá trình động của ngôn ngữ. Chỉ thông qua quyền lực của ngôn ngữ, quyền lực của sự đối xứng tinh thần tạo nên quan hệ đối xứng, mà X và Y đã xác định kiến trúc đặc biệt của cái có thể –và đối với họ là thứ kiến trúc mới mẻ.
7.5
Trong cái quyền lực generative [hiểu là cái này sinh ra cái kia, cái sau ra đời trên cơ sở của cái trước-ND] này mà chúng ta định nghĩa như là một kiến trúc của sự lựa chọn, và của đại diện. Quyền lực ngôn ngữ học sinh ra cái khả năng cũng đồng thời sinh ra khả năng của sự lựa chọn. Chúng ta đạt tới giá trị triết học cũ của sự tự do chọn lựa, được đặt mơ hồ từ cái neo cố định trong cấu trúc-định luận.
7.6
Nhưng ai đó có thể phản đối, chẳng phải các cấu trúc của ngôn ngữ, giống như các cấu trúc của thế giới xác đinh các kết cục hay sao? Tại sao việc “đọc một văn bản được viết trước” không phải là ít ý nghĩa? Tại điểm này các khoa học mới về sự phức hợp cho chúng ta hai kiến giải hữu dụng và có liên quan lẫn nhau.




7.7
Một khái niệm là các mối quan hệ hỗ tương phức hợp của một hệ thống tạo nên sự nhập nhằng và khả năng đa nghĩa—hoặc nói theo thuật ngữ quen thuộc hơn là tự do. Một ví dụ có thể có ích là, trong trò chơi oẳn tù ì của trẻ em, Nắm đấm, Giấy, Kéo. Có ba thành phần tương tác với nhau bên trong một hệ thống. Cái nào chiếm ưu thế nhất? Nắm đấm thì hơn kéo, rồi đến lượt kéo hơn giấy, rồi giấy lại hơn nắm đấm. Sự kết hợp bất kỳ hai cái nào cũng đều không nhập nhằng, nhưng toàn bộ hệ thống thì nhập nhằng, bởi vì các mối liên hệ tuần hoàn (nhưng thực chất là hoàn toàn mang tính cấu trúc)
7.8
Cái sự nhập nhằng này tạo thành bởi đa liên kết chính là những gì phần biệt các hệ phức hợp từ các hệ đơn giản.
7.9
Nhưng rồi ai đó lại phản đối, nếu chúng ta biết được tình trạng ban đầu của hệ thống, tại sao chúng ta không thể xác đinh bước tiếp theo một cách không mơ hồ? Chẳng hạn, nếu chúng ta biết được đối tượng hiện tại là nắm đấm, thì chúng ta cũng biết một cách rõ ràng rằng đối tượng tiếp theo kém giá trị hơn là cái kéo, và có giá trị hơn nó là tờ giấy.

7.10
Nhưng đây chính là điểm thứ hai từ quan điểm của khoa học về sự phức hợp: trong một hệ thống phức hợp không tầm thường, không thể biết đích xác tập hợp các tình trạng ban đầu. Điều này tương tự như nguyên tắc về sự nhạy cảm (chưa được biết) của tình trạng ban đầu. Mặc dù nó dường như có thể nhìn về quá khứ, để xác định một loạt các sự kiện dựa trên tình trạng ban đầu, không thể trình bày điều kiện ban đầu với một sự chính xác tuyệt đối. Còn trong việc phân tích một cách định luận hành vì của bất kỳ một hệ tầm thường nào, độ chính xác tuyệt đối được yêu cầu. Thực ra là, không bao giờ ta đạt được độ chính xác tuyệt đối.
7.11
Một lần nữa, bằng chứng của việc này có thể thấy được trong bài báo của Kurt Gödel vào năm 1931 và một loạt các bài báo khác theo sau. Không chỉ tác phẩm Principia Mathematics cần phải bất toàn—nghĩa là không có khả năng trình bày bàn thân các sự kiện với một độ chính xác tuyệt đối—nhưng bất kỳ một hệ thống nào cũng phải bất toàn như nhau. Chúng ta không thể lọc xuống một “bản thiết kế tuyệt đối” của các điều kiện ban đầu.
7.12
Về bản chất Gödel dựa trên một loại “Nghịch lý Epimenides”—chỉ ra rằng bất kỳ hệ thống nào có khả năng phát biểu, chẳng hạn “Hiện giờ tôi đang nói dối anh”. Nhưng dĩ nhiên đây là mệnh đề không thể có logic: nếu hệ thống đang nói dối, thì nó lại đang nói sự thật; nếu nó nói sự thật thì nó lại đang nói dối! Vấn đề là về mặt bản chất chúng ta đang rơi vào cái bẫy của tính chất hồi suy của sự trừu tượng. Mọi sự trừu tượng đều là một cấu trúc thứ cấp, nó chỉ có một phần đối xứng với cái thứ nhất [cái được làm trừu tượng – ND]. Hoàn toàn không thể có được một sự trừu tượng hoàn toàn phù hợp với chủ đề của nó. Điều này là đúng đắn thâm chí chủ thể là bản thân sự trừu tượng đó.
7.13
Thêm vào đó, sự trừu tượng cũng không hữu ích lắm nếu nó trùng khớp với chủ thể. Câu chuyện tuyệt vời của Lewis Carroll trình bày rõ ràng điều này dù là ở mức cảm nhận. Trong câu chuyện của trẻ con Sylvie và Bruno đã kết luận, các nhân vật chính của chúng ta gặp một người từ một quốc gia khác, người này kể với họ về nỗ lực của nước anh cố gắng tăng cường độ chính xác của bản đồ của họ. Khi bản đồ càng chi tiết hơn và càng hoàn thiện hơn, chúng trở nên lớn quá, lớn như cái vùng mà chúng định trình bày. Cuối cùng họ làm một bàn đồ chót, to lớn như quốc gia của họ! Nhưng liệu họ có thể dùng bản đồ này không?
Mein Herr “Mặc dù là bản đồ chưa bao giờ được trải ra, nhưng các bác nông dân đã phản đối; họ nói nó có thể phủ lên toàn bộ đất nước và che khuất ánh mặt trời! Vì thế, chúng ta sử dụng bản thân cả nước như là bản đồ của chính chúng, và tôi chắc chắn với bạn là nó cũng làm việc tốt [như tấm bản đồ-ND]”.
Lewis Carroll, Sylvie và Bruno đã kết luận (1889)
7.14
Cái câu chuyện ngụ ngôn hóm hỉnh này nhắc nhở chúng ta rằng để mà hữu dụng, các loại bản đồ, các loại trừu tượng và các kiểu mô hình, các cấu trúc ngôn ngữ, kiến thức—phải một mức nào đó khác biệt hơn, và thực chất là phải đơn giản hơn vùng/khu vực mà chúng thể hiện. Tính bất toàn của Gödel không phải là khiếm khuyết của kiến thức, mà là đặc điểm thiết yếu và rất hữu dụng của nó—nhưng chính chúng ta là người làm cái việc lựa chọn và bỏ qua [những gì không thiết yếu-ND]. Như Whitehead đã ghi nhận “một sự trừu tượng không là gì khác hơn một sự bỏ qua một phần sự thật” (Whitehead, 1938).
7.15
Thêm vào đó, ở đây lại có chuyện “con sâu lớn làm rầu nồi canh” của các điều kiện ban đầu. Không phải là gì khác hơn chính chúng ta, như nhà vật lý Werner Heisenberg đã ghi nhận ban đầu trong nguyên tắc “cứng” của vật lý lượng tử và sau này như là một nguyên tắc nhận thức luận chung, chúng ta có thể không bao giờ viết được về bản thân chúng ta, những người quan sát, ra khỏi sự quan sát. Tính chất chủ quan thẫm đẫm trong chúng ta, cái tình trạng không chắc chắn và nhập nhằng là không thể tránh được và là phần tiên nghiệm (a priori) của các điều kiện ban đầu tại bất kỳ thời điểm nào.
7.16
Chính ở đây bản chất của cơ chế của chúng ta nằm trong cái thế giới không thể làm tối giản được của chúng ta, cái không thể tính toán được, cái sự tham dự không thể từ chối được. Bất kỳ một sự miêu tả khoa học có giá trị nào về cái điều gi đang thực sự diễn ra phải cuối cùng kể đến hoàn cảnh này, như là một điều kiện tiên nghiệm (a priori). Tất cả các sự kiện là sự dẫn xuất của sự thật này: chúng ta là những kẻ tham gia đã bị nhúng vào.
7.17
Thực ra đây không phải là tin xấu: chính ra lại là tin tốt nhất có thể. Nó còn cho chúng ta nhiều cơ hội hơn: đó là sự chọn lựa có ý nghĩa. Nó có nghĩa là chúng ta có thể tạo nên một sự trừu tượng hữu dụng, và những sự trừu tượng của trừu tượng, và các lý thuyết chính mạnh mẽ-- chúng có thể đặc biệt hữu ích cho chúng ta, trong việc xác định, tạo ra các kiến trúc mới của cái có thể thực tại—thực tại bởi vì sự lựa chọn của chúng ta là thực, và khả năng của chúng ta làm cho chúng xảy ra là thực.
7.18
Điều này cũng có nghĩa là chúng ta phải nhận ra giới hạn của sự trừu tượng, và cái bản chất biến thiên theo (derivative) của chúng. Thêm vào đó, chúng ta phải nhận thức những mối nguy đầy cám dỗ của sự chính xác (thật dễ nhầm lẫn với sự hoàn hảo), và cái xu hướng vĩnh cửu trượt về sự trừu tượng, để rồi thất bại trong việc hiểu tính không phù hợp mãi mãi (thường không bị phát hiện), giới hạn, và các dẫn xuất theo. Chúng ta có thể bị lạc lối trong những gì mà Wittgenstein gọi là “bị bỏ bùa mê trí tuệ bởi những biện pháp ngôn ngữ”. Như Whitehead ghi nhận trong tác phẩm nổi tiếng của ông Các hình thức tư duy chúng ta phải đảm bào “một sự điều chỉnh đúng đắn cho quá trình trừu tượng”.
Một giải thích lại mang tính cấu trúc luận của chủ nghĩa duy tâm và thuyết vật hình

8.1
Chúng ta có thể kết luận gì về các hình thức nguyên thủy? Trở lại với Plato và Pythagoras? Tỷ lệ và sự hài hòa nào, các khả năng nào của chúng được thể hiện trong trật tự đạo đức của mọi vật?
8.2
Có vẻ rằng chúng đã bị tàn phá, hoặc ở mức tốt nhất, bị bỏ lại như các cấu trúc đơn giản của ngôn ngữ, hoặc của trí tuệ. Nhưng nếu chúng ta nhớ lại rằng ngôn ngữ dường như có tính tương ứng đối xứng với cấu trúc của tự nhiên, chúng ta có thể không ngạc nhiên lắm khi biết rằng các thể loại tương tự lạ lùng của cấu trúc đã trở lại, trong một tập hợp rất khác biệt các hoàn cảnh.
8.3
Sự nhấn mạnh đến các cấu trúc giống như kiểu mẫu đã khiến chúng ta nhận ra những loại lớp thường lặp, chúng đã được tạo nên như là kết quả của những quá trình hình thành kiểu mẫu. Khi một cấu trúc di chuyển tự do xung quanh một chiều dài cố định tại điểm cuối của nó (tương đối với các cấu trúc khác) nhưng lại bị giới hạn bởi chiều dài từ đó mong muốn giải phóng khỏi cái vỏ cấu trúc, đang mang theo một kiểu mẫu đặc trưng: một vỏ cầu hay bán cầu chẳng hạn. Hoặc một cấu trúc di chuyển tự do dọc theo chiều dài của một sợi dây căng còn xung quanh nó hình thành một trục không giới hạn giới hạn một hình trụ, vân vân..
8.4
Chúng ta không cần giả định một thực tại siêu việt nào của các cấu trúc như thế, hơn là nó rằng chúng là các kiểu mẫu được tạo ra phù hợp bằng các chuyển động tương tác với các kiểu mẫu khác—và được tạo nên một cách hoàn chỉnh bằng các kiểu mẫu đối xứng của bản thân ngôn ngữ và tư duy của chúng ta. Không có cái gì “thực tại độc lập” hơn từ “hình cầu” là thực tại, ngoại trừ là một khả năng có thể được sản sinh. Nhưng cũng là một số lượng lớn các cấu trúc khác. Những cái này đơn giản chỉ là các cấu trúc mà chugns ta tìm thấy mối quan tâm đặc biệt bởi vì chúng có một nguồn gốc đơn giản và có thể lĩnh hội được.
8.5
Hơn thế nữa, quyền lực của sinh học hiện đại và toán học nằm ở trong khả năng di chuyển dọc theo một tiến trình phức hợp hơn nhiều các loại cấu trúc bí truyền—dù rằng chúng có thể hiểu được thông qua một quá trình tạo bản đồ-đối xứng ngôn ngữ.
8.6
Một ví dụ đặc biệt làm hứng thú (và mang tính đại diện) là những gì được biết đến như một nguồn hấp dẫn (attractor). Nếu một ai đó vẽ đồ thị các hiện tượng phức hợp theo các biến thành phần của chúng (ví dụ vị trí, mật độ, hoặc các thuộc tính khác) nó thường được quan sát như là trường hợp mà một số kiểu mẫu hình thành xung quanh các vùng xác định của sơ đồ, vì các nguyên nhân nào đấy mà không phải lúc nào cũng rõ ràng với chúng ta. Cái kiểu “lòng chảo của nguồn hấp dẫn” này thực chất tương tự như các giới hạn của một bán kính mô tả một mặt cầu, tuy vậy chúng thường phức tạp và bí hiểm hơn. Thực chất một số quá phức tạp và lạ lùng đến nỗi chúng được gọi là “các nguồn hấp dẫn lạ lùng”—các hình dạng lạ lùng nhất tuy vậy lại có trong các kiểu mẫu được xác định rõ rằng (vùng nước xoáy, đài hoa, v.v...)
8.7
Hóa ra là những nguồn hấp dẫn này xảy ra khắp mọi nơi—và chúng có vẻ như có những đặc tính rất quan trọng về cách các sự vật làm việc như thế nào, đặc biệt trong các quá trình sinh học. Thực chất chúng là các cấu trúc của các kiểu mẫu đặc trưng hình thành bên trong tự nhiên như là kết quả của các quá trình tùy ứng.
8.8
Nhà sinh học Brian Goodwin đề xuất rằng “nguồn hấp dẫn cấu trúc” này đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành các cấu trúc sinh học trong quá trình tiến hóa. Chẳng hạn, một cái vây lưng cá heo có đặc trưng riêng, có một hình dạng rất phức tạp như là kết quả của mối tương quan rất phức tạp của quá trình rối trong nước, dòng tạo thành lá, v.v...Con cá heo giải quyết được vấn đề (hoặc chính xác hơn, quá trình tiến hóa của con cá heo đã giải quyết vấn đề) với một thuộc tính hình học được xác định như là giới hạn của giải pháp, giống như bán kính của một chuỗi xác định giới hạn của quả cầu. Con cá mập, tiến hóa từ một lớp động vật khác hoàn toàn khoảng 300 triệu năm trước sớm hơn, đã tạo nên một cấu trúc gần giống như vậy—không vì nguyên nhân nào khác hơn là sự phức hợp của quá trình đã xác định một nguồn hấp dẫn cấu trúc tương tự.
8.9
Trở lại với Plato, phải chăng hình dạng của vây lưng con cá là hình dạng vượt thời gian, tồn tại trong một địa hạt không nhìn thấy được? Không, chắc chắn là không: nó là một kiểu dạng đã hình thành vì các nguyên nhân có thể hiểu được, nhưng là hình dạng được hình thành thường lặp và kiên trì. Chúng ta có thể gọi nó là kiểu dạng, và tìm thấy công dụng trong cách đặt tên (có nghĩa là các trường hợp ứng dụng lặp đi lặp lại, hoặc các tính chất đối xứng đặc trưng). Kiểu dạng có thể phân giải được—nhưng nó có thê lĩnh hội được, thông qua lăng kính mới này của tự nhiên.
8.10
Các kiểu dạng này cũng có vật tương ứng của chúng trong cái mà các nhà vật lý gọi là quá trình bẻ gãy-đối xứng. Một vũ trụ tuyệt đối đối xứng sẽ chẳng có một kiểu dạng nào cả: thực chất nó là một chỗ tồi! Nhưng chỉ cần đem vào một sự bẻ gãy nhỏ trong cái đối xứng đó- một thứ như hạt sạn bên trong con sò, có thể nói như vậy—và những thứ cực kỳ hứng thú bắt đầu sinh ra. (Có thể xem điều này như là một sự tương tự toán học, trong một chương trình máy tính gọi là “Sự sống”—một chuỗi các tế bào theo sau các quy luật “không làm gì cả” cho đến khi một sự thay đổi nhỏ được tạo ra trong một tế bào—và ngay lập tức một kiểu mẫu lớn lao được tạo ra khắp màn hình).
8.11
Theo một nghĩa nào đó, đây là sự trở lại với chủ nghĩa duy tâm Plato, và về thuyết vật hình của Aristotle—nhưng với một sự phát triển mới. Chúng ta không bị hấp dẫn tới bất kỳ tập hợp cơ bản hình thức nào được phân giải đến tận gốc của sự vật, trái lại chúng ta xác định một tập hợp các kiểu mẫu thường xảy ra mà có thể được phân loại theo xu hướng của chúng để kết hợp lại thành các cấu trúc tương đối đơn giản hoặc thành những cái mà chúng ta có thể gọi tên là “hạng” (“order”). Một hình cầu quả thực là đơn giản hơn cái vây lưng—nhưng chúng là cùng một kiểu thực tại. Chúng đều được tạo ra bởi sự tương tác của các cấu trúc có thể lĩnh hội được. (Mặc dù trong trường hợp các vây lưng, để có được hình dạng đó cần rất nhiều thời gian và nỗ lực).
8.12
Thậm chí một giải pháp ngầm định cho một bí ẩn xưa cũ về “nơi chốn” của toán học. Pythagoras cho rằng đó là một mức độ căn bản của thực tại nằm dưới toàn bộ những gì chúng ta có thể thấy? Giờ thì không nhất thiết như thế nữa: thay vì thế chúng ta có thể nhìn thấy thế giới như một trường tương tác của các cấu trúc đẳng hình chuyển dịch theo thời gian. Vì vậy các luật toán học và các phạm trù thứ hạng (order) không tồn tại trong một thực tại không nhìn thấy được mà chúng được tạo nên từ các cấu trúc đơn giản hơn xuất hiện từ sự tương tác của các cấu trúc khác phức tạp hơn. Về thực chất chúng là các miền tạo nên cái có thể. Chúng là các đặc điểm đối xứng (thể hiện sự bẻ gãy-đối xứng một phần) bên trong thế giới của cấu trúc và quá trình. Nói gọn, chúng chính là các kiểu dạng.
8.13
Nhưng thực tại cuối cùng của “kiểu dạng” này, như là một thực thể khác biệt với cái có thể được sản sinh là gì? Và bản thân thực tại cuối cùng của cái “có thể” là gì? Như chúng ta quan tâm, cuôi cùng thì chúng “chỉ là” các sự trừu tượng bên trong bộ não của chúng ta (hoặc trong máy tính, hoặc trong trang giấy). Nhưng chúng là các cấu trúc không kém “thực” trong thế giới này. Đó là mối quan tâm mang tính tham dự của chúng ta trong cái quan hệ đồng hướng này—và sự chối bỏ tích cực các thành phần của thực tại trong tình trạng đẳng hướng, thông qua quyền lực của ngôn ngữ và tư tưởng—vốn làm nên quyền lực generative của nó.



8.14
Thường thì có một sự lẫn lộn mang tính phạm trù cái gì là “thực” như là một cấu trúc ở cấp độ mà mối quan tâm sinh học (sự tham dự tiên nghiệm) của chúng ta được quan tâm hữu hiệu và cấp độ thứ cấp thứ hai hoặc thứ ba (hoặc ngoài đó nữa) của cái tự tham chiếu mang tính trừu tượng. Khi đó mọi thứ bất ổn bắt đầu. Bất ổn là vẻ cám dỗ của sự hoàn chỉnh vốn không tồn tại.
8.15
Vậy cuối cùng chúng ta có thể không cần đến một địa hạt tại ngoại, siêu việt của Hình thức, và chuyển sự hiểu biết của chúng ta về các kiểu dạng. Nhưng theo một cách nhắc lại Plato, Aristotle và Pythagoras, chúng ta có thê phân loại các hình thức này, hoặc các kiểu dạng này, một cách hữu ích và xem chúng như các hạng nguyên thủy bên trọng các hoàn cảnh cụ thể (một lần nữa, hãy cẩn thận rằng chúng ta hiểu những sự trừu tượng này như chính là chúng, và không tạo nên các sai lầm cơ bản).
8.16
Chắc chắn những hình thức này là nguyên thủy chẳng hạn khi xét đến bố cục của cơ thể cá heo, hoặc cá mập. Chúng là nguyên thủy khi tính đến sự lặp lại của chúng theo thời gian và sự phát triển cá thể bên trong cơ thể sinh vật. Nói chung, chúng là nguyên thủy khi xét đến hệ gien cụ thể hoặc chuỗi bổ sung protein bên trong quá trình phát triển của phôi thai vốn biểu hiện bản thân trong một hình thức tương tự. Chúng có vẻ bắt nguồn như là các hình mẫu cơ bản bên trong các cấu trúc này.
8.17
Những công trình mới đặt giả thuyết rằng những chuỗi di truyền này thực chất là những cụm chuỗi di truyền giống như kiểu dạng, hoạt động sao cho nhô ra và gập lại và định hình các cấu trúc như vây lưng của con cá heo, tựa như quá trình xếp hình origami vậy. Ví dụ, Newman và Bhat (2008) đề xuất một mô hình theo kiểu dạng cho nguồn gốc của Kỷ bùng nổ Cambrian, có vẻ đây là một mô hình hấp dẫn cho quá trình tiến hóa vật chất-hình thức của hình thức đa bào.
8.18
Nếu chúng ta với tư cách là những nhà thiết kế, chúng ta có thể xác định một hệ quả. Ví dụ hãy mô tả hình dạng của một cột. Tại sao nó tồn tại như là nó tồn tại? Chúng ta có thể biết chắc các lực kéo kết cấu ở chân cột và đỉnh cột yêu cầu làm dày ở các điểm này. Chúng ta có thê mô tả hình dạng hữu hiệu yêu cầu làm thon đầu cột, hoặc sử dụng các thành phần làm cứng như các đường hoa văn tạo rãnh. Chúng ta có thể mô tả nhu cầu tâm lý của con người, những người thường tiếp xúc với các cây cột này có thể tìm thấy sự hợp lý sinh học sâu xa và làm hài lòng họ trong cấu trúc giống như cái cây. Sự miêu tả cây cột này có thể đóng góp vào một nguồn hấp dẫn bên trong cấu trúc—và thực chất, chúng ta có thấy các cây cột như vậy với cùng đặc tính ở trong các nền văn hóa trên khắp thế giới.
8.19
Bây giờ hãy thử xét xem các cấu trúc lớn hơn—chẳng hạn, một cấu trúc của hiên có mái (porch)—và xem xét các câu hỏi tương tự. Làm thế nào nó kết nối một ngôi nhà với khu không gian công cộng? Mối quan hệ mà con người có được với đường phố khi họ ở trong hiên đó, và với ngôn nhà là gì? Họ có thể giao tiếp với những người khác trên đường phố hay không, trong khi có một cảm giác an toàn kết hợp với một cảm giác hài lòng về tầm nhìn bao quát? Nó có đóng góp vào chất lượng văn mình của khu phố hay không?
8.20
Và các cây cột của một mái hiên kiểu như đã mô tả ở trên, có đóng góp vào sự khăng khít kết cấu và tâm lý của mái hiên? Chúng ta có xác định một dạng cấu trúc—một nguồn hấp dẫn cấu trúc của “mái hiên” có những giá trị có-thể-giải-quyết-vấn-đề thường lặp lại?
8.21
Hóa ra là những kiểu dạng thường lặp trên có thể có giá trị rất lớn và khi các thành phần có các tiểu thành phần (chẳng hạn các cột) và đến lượt nó phối hợp thành các thành phần lớn hơn (chẳng hạn các tòa nhà). Chúng ta không cần phải theo quan điểm phả hệ cứng nhắc vê việc làm thế nào các hình thức như vậy được tạo thành, hoặc thiết lập một lớp siêu việt hoặc nền tảng, mà chúng ta có thể thấy rằng có một mối quan hệ ẩn vào nhau giữa những kiểu dạng thường lặp và thường dụng—ít nhất một phần là như vậy. Nó trình bày cho chúng ta một cơ hội lớn tạo nên các chuyển biến tùy ứng cho các cấu trúc toàn thể.
8.22
Quan điểm Cấu trúc luận đối xứng về tự nhiên không làm suy giảm khả năng tạo nghĩa và giá trị bên trong thế giới cấu trúc. Ngược lại, như chúng ta sẽ bàn thào thêm ở dưới, nó làm giàu thêm ý nghĩa và giá trị của bản thân cấu trúc. Vì thế cấu trúc không phải là một cái vỏ chết cứng: nó là miền mà tại nơi đó hiện tượng của cuộc sống lớn lên (như chúng ta đã biết)—và kèm theo nó, các hiện tượng liên quan về phẩm chất, ý nghĩa và giá trị.
8.23
Có vẻ như nó thực hiện điều đó thông qua kiểu dạng của các toàn thể cấu trúc liên hệ lẫn nhau, hơn là thông qua kiểu kết nối kiểu nguyên tử. Kiểu sau là suy ra từ sự trừu tượng. Kiểu trước trái lại là nơi sự sống diễn ra—thực chất, khi chúng ta, bản thân các sinh linh, đã luôn thấy mình đẫm trong nó. Ý nghĩa là có tính cấu trúc và cấu trúc là có ý nghĩa. Còn nhiều thứ để nói về việc làm thế nào mà toàn bộ chúng vận hành, và làm thế nào đẻ chúng ta có thể ứng dụng nó trong hoạt động của mình.
Christopher Alexander; Thuyết mereology (quan hệ bộ phận tổng thể) trong thực hành

9.1
Dường như chẳng có kiến trúc sư nào minh họa—thực chất là phát triển—những ý tưởng trên tốt hơn kiến trúc sư-nhà toán học Christopher Alexander. Được đào tạo vật lý và toán tại trường đại học Cambridge, Alexander đã nhận bằng tiến sĩ kiến trúc đầu tiên tại Harvard, sau này luận án của ông được phát triển thành tác phẩm đầu tay Những ghi nhận về sự tông hợp của hình thức. Nó được chào đón nhiệt liệt vào thời kỳ đó và cho đến tận này nay như là một bước ngoặt trong lý thuyết thiết kế. Nó tạo tiền đề cho công việc suốt đời của ông liên quan đến mereology, bằng một sự giải thích hiện đại về mối quan hệ giữa bộ phận và tổng thể, và cấu trúc của các tổng thể-- như là cái toàn thể, như là một hiện tượng cấu trúc ta có thể lĩnh hội được.
9.2
Vào thời điểm đó chủ đề các thành phần của một vấn đề thiết kế và làm thế nào chúng có thẻ được giải quyết thông qua giải pháp cấu hình mà ông gọi là sơ đồ (diagram) (sau này được gọi là kiểu dạng –patterns). Hoàn cảnh lúc đó là ở vào thời kỳ đầu của thời đại điều khiển học, vấn đề về sự phức hợp trong công nghệ của con người—và trong tự nhiên. (Nhà khoa học tiền phong về điều khiển học Hebert Simon lúc đó làm việc tại M.I.T cùng với Alexander khi đó là học viên sau đại học, đã viết bài báo đỉnh hai năm trước đó về cùng chủ đề “Kiến trúc của sự phức hợp”).
9.3
Nhưng chủ đề cuối cùng không phải là gì khác hơn thuyết vật hình của Aristotle, được cập nhật theo tính hiện đại của thời công nghệ. Chủ yếu Alexander đặt câu hỏi, phải chăng các thành phần “tạo” nên toàn thể, theo kiểu góp lần lần hoặc theo kiểu bố cục? Rõ ràng không phải như thế: cái toàn thể bằng cách nào đó lớn hơn tổng của các thành phần. Hơn thế nữa, cái toàn thể theo nghĩa nào đó tạo nên các thành phần cũng như ngược lại. (Điều này đặc biệt đúng trong các quá trình sinh học. Chúng ta không nó rằng lá cây “tạo” nên cái cây—ngược lại, rõ rằng rằng thông qua một qua trình phân biệt, cái cây tạo nên những chiếc lá!).
9.4
Mọi thứ trở nên đặc biệt rối rắm khi các phần và toàn thể phóng đại lên sang các phần khác của môi trường rồi lại trở lại để tương tác theo những cách không ngờ-- một kiểu phức hợp đặc trưng. Làm thế nào mà sự phức hợp này có thể được sàng lọc lại thành một “sơ đồ” hữu ích nhưng lại không đánh mất các tính kết nối chủ yếu? Với nhà thiết kế và nhà công nghệ, làm sao chúng ta có thể phân giải tính phức hợp này—giả định rằng nó không phải là một sơ đồ suy giản, mà là làm thế nào để quản lý nó một cách hiệu quả?
9.5
Những gì mà Alexander quan sát được là tập hợp các sơ đồ-- như đã nói, sau này ông gọi là “các kiểu dạng”—không hoàn toàn nẳm ẩn trong nhau như sơ đồ phả hệ dạng cây. Theo một cách tương phản, chúng bao gồm các đặc điểm tinh tế nhưng rất quan trọng của các “bán phủ chồng” (semi-lattices) hoặc các mạng lưới dư thừa—một thuộc tính mà ông gọi là “phủ chồng”. Cái đặc điểm tương đối nhỏ này, dễ dàng bị bỏ qua, không phải là một sự nhược điểm ngẫu nhiên, mà là một thuộc tính quan trọng của các hệ thống tự nhiên—đặc biệt là các hệ thông sống. Bằng cách nào đó, chúng ta cần phải chắc chắn rằng các quá trình của chúng ta về lập sơ đồ và sinh tạo—quá trình của chúng ta trong việc sử dụng sự trừu tượng của con người—phải tham gia vào quá trình tạo chất lượng cấu trúc này.

9.6
Những hậu quả của việc không thực hiện được điều đó có thể được thấy khi nhìn sang các cấu trúc như thành phồ-- giống như khi Alexander chỉ ra trong bài báo kinh điển của ông vào năm 1965 “Thành phố không phải là cây phả hệ”. Ông đã chỉ ra rằng các thành phố cũng thể hiện thuộc tính quan trọng này của sự phủ chồng, hoặc của “cấu trúc bán-phủ chồng”. Nhưng các thành phố được quy hoạch thường lại thiếu thuộc tính này, khiến cho, như Alexander nói, đóng góp thêm vào tỷ lệ cao của sự thất bại và bất hoạt. Ông đã chứng mình điều đó thông qua một loạt các ví dụ tài tình và thông qua việc phân tích những thất bại thảm họa của các thành phố “được quy hoạch”—vì vậy cung cấp một lời giải thích toàn diện mang tính cấu trúc cho sự thất bại của chủ nghĩa hiện đại. Tài liệu này được chào đón nhiệt liệt như là một bài báo đỉnh, nhưng tiếc thay lời nhắn nhủ chủ chốt của nó lại bị hầu hết các nhà thiết kế đô thị bỏ qua.
9.7
Viễn kiến này có ngụ ý rất quan trọng trong công tác thiết kế ở nhiều cấp độ-- và là một trong các ẩn ý cho tư tưởng duy tâm của Plato. Một người có thể “hầu như phân giải” một vấn đề thiết kế (sử dụng thuật ngữ của Herbert Simon) thành một thứ gì đó hữu ích, nhưng anh ta có thể không bao giờ đi xa hơn việc giảm thiểu vấn đề thành một sơ đồ thuần túy mà không đánh mất các thuộc tính cốt yếu của hệ thống. Như Gödel đã chỉ ra, chẳng thể nào có một bản thiết kế hoàn hảo cho thực tại.
Công tác tiếp theo về các kiểu mẫu

10.1
Tiếp đó Alexander đặt câu hỏi: làm thế nào chúng ta có thể thiết kế một công cụ hoặc một phương pháp để một cách rõ ràng kết hợp các sự phủ chồng trên, và tạo nên những thuộc tính giống như mạng lưới? Câu trả lời của ông là cái mà ông gọi là một “ngôn ngữ kiểu dạng”—một cấu trúc các thành phần thiết kế có các thuộc tính phả hệ, nhưng cũng cũng là các thuộc tính mang lưới và gồm cả khả năng phù chồng lẫn nhập nhằng. Sự tham chiếu đến ngôn ngữ không chỉ là sự tương ứng bởi lẽ ngôn ngữ cũng có sự phối hợp kiểu phả hệ với khả năng phủ chông, liên kết mạng lưới tạo ý nghĩa, và thậm chí tạo nên sự nhập nhằng có tính chủ định. Thực chất điều này đánh dấu sự phân biệt giữa một danh sách toàn các sự kiện, hoặc một mệnh đề ngữ pháp tầm thường với một áng văn kiệt xuất. Alexander cho rằng những thứ tương tự cũng xuất hiện trong hoàn cảnh bình thường, trong việc tạo nên những môi trường bình thường và trật tự của các sự kiện thường ngày của đời sống.
10.2
Ông cho rằng, cái thứ trật tự này đã tiến triển thường xuyên trong các hoạt động của con người như là vấn đề về bản năng. Nhưng trong các nỗ lực hiện đại (và Tân-Hellenic) của chúng ta để làm cho có vẻ duy lý, chúng ta có thể dễ dàng tuột xa mức độ phức hợp của trật tự, và tự làm cho mình bị nghèo đi. Thêm vào đó chúng ta có thê trải nghiệm những thất bại thảm họa tiềm tàng trong các thiết kế của mình, dù cho là nó có theo ý định tốt đi thế nào chăng nữa, tạo nên một điều kiện ngày càng không bền vững cho công nghệ và văn minh. Lý thuyết thiết kế của Alexander là sự khởi đầu để vạch ra những đường nét chính trong việc tự phê bình tính hiện đại của công nghệ chúng ta.
10.3
Tác phẩm Một ngôn ngữ kiểu mẫu (1978) miêu tả một loạt những kiểu mẫu thiết kế có thể được phối hợp theo những cách hiệu quả, phủ chồng; nó có thể được dùng bởi những người thiết kế nghiệp dư cũng như các kiến trúc sư chuyên nghiệp. (Thực ra, ở một mức độ nào đó các kiến trúc sư chuyên nghiệp đã bỏ qua Alexander) Alexander cũng xuất bản Phương thức xây dựng vượt thời gian quanh khoảng thời gian này, hình thành nên cơ sơ lý thuyết rộng hơn cho các kiểu mẫu, và cho sự tiến hóa có một nền công nghệ vị cuộc sống.
10.4
Cả hai tác phẩm đều được chứng minh là có ảnh hưởng rất lớn, và thường vượt ra ngoài địa hạt kiến trúc. Một trong những điều đáng ngạc nhiên là thế giới của lập trình máy tính, nơi mà “kiểu mẫu thiết kế” hiện diện khắp nơi—ta có thể thấy nó trong hầu hết các trò chơi, trong hệ điều hành của Apple Mac, trong iPhone, và trong logic của Wiki và Wikipedia. (Đây lại là một câu chuyện đầy hứng thú khác, đáng để chúng ta bàn thảo, xin xem trong “Các chân trởi mới của Kiểu mẫu ngôn ngữ” của Mehaffy. Trong Kiểu mẫu, Kiểu mẫu ngôn ngữ, và Tính bền vững: Báo cáo Hội nghị, Quỹ Đại học Oregon, tháng Năm 2010)
Mereology, Cái toàn thể và Chất lượng
11.1
Alexander muốn đi xa hơn—trong bản chất của sự sống, và các quá trình của nó trong việc tạo nên hình thức. Chúng ta có thể học được điều gì từ những viễn kiến khoa học về các quá trình này? Chúng ta có thể học được gì về làm thế nào các hệ thống sự sống đạt được tính phức hợp, tính bền vững, thậm chí vẻ đẹp tuyệt vời—chúng tạo nên điều đó với một số lượng phi thường và ở các tầm mức phi thường, thông qua quá trình tuyệt diệu của sự tự tổ chức? Ẩn ý với công nghệ hiện đại của nhân loại là gì? Những viễn kiến khoa học mới đang mời gọi các manh mối mới.
11.2
Alexander dành hai mươi lăm năm tiếp theo để theo đuổi những câu hỏi trên—bằng cách tổng hợp công việc của những người khác và bằng cách theo đuổi kỳ công mang tính hiện tượng luận của ông—để rồi ông đi đến những kết luận thiết yếu.
11.3
Đầu tiên các hệ thống sự sống không sử dụng bất cứ thứ gì giống như “bản thiết kế nhỏ” hay như tập hợp các hình thức Platonic. Thay vì thế, chúng sử dụng quá trình mã hóa để sinh tạo hình thức, và những chức năng này giống như các công thức nấu ăn gồm nhiều bước. Mặc dù các quá trình này có vẻ như phức hợp đến chóng mặt trong sự phối hợp thường lặp, về bản chất chúng lại là các thuật toán tương đối đơn giản và có thể được hiểu theo một cách hoàn toàn duy lý.
11.4
Thứ hai, quá trình này mang tính chuyển biến, và không thể “chạy theo chiều ngược lại” trong hầu hết các trường hợp (ngoại trừ một quá trình trừu tượng đơn giản, mà chắc chắn sẽ đánh mất các phần quan trọng của câu chuyện). Quá trình chuyển biến này giới thiệu sự phân biệt tiếp diễn thông qua sự phá vỡ tình trạng đối xứng đã tồn tại trước đó (ví dụ, một quả trứng tròn phân lý và trở thành một cấu trúc tuyến tính). Rồi khi quá trình đã khai mở, tất cả các phần, theo các mức độ khác nhau, sẽ chuyển hóa tương hỗ với nhau—bao gồm các phần không thuộc về cùng một cụm nguyên thủy. Nó tạo ra chất lượng “phủ chồng” (thường là nhỏ nhưng quan trọng) và mạng lưới liên kết của các kết nối qua lại đặc trưng cho các hệ phức hợp phức hợp.
11.5
Điều chủ yếu là rất hiếm khi (theo một nghĩa nào đó, thì không bao giờ) mà một toàn thể đơn giản chỉ là tập hợp của các phần độc lập, được sắp xếp theo một bố cục đáng mong đợi nào đó. Thay vì thế, các phần là phần mở rộng quan trọng của một toàn thể trước đó, và quá trình tiếp diễn của chúng thành một toàn thể mới không chỉ là sự tái lắp ráp mà là một loại chuyển biến (transformation) và nó bảo toàn ít nhất một phần của cấu trúc trước đó.
11.6
Đó là khái niệm của Alexander về những gì mà ông gọi là “quá trình bảo toàn cấu trúc”, một quá trình tạo nên những sự phân biệt [tức là tạo nên sự khác- ND] và những cấu trúc mới, nhưng theo một nghĩa quan trọng, cũng bảo toàn cái cấu trúc toàn thể mà đã có trước.
11.7
Quá trình này có thể được thấy rõ trong sự phát triển của phôi thai, khi toàn bộ cơ thể phát triển thông qua một sự chuyển biến liên tục bảo toàn cái toàn thể, nhưng cũng đồng thời hình thành các cấu trúc mới (Xem hình Một). Quá trình này được mã hóa rõ rệt thông qua quá trình hoạt động hóa học ở mức độ phân tử-- là các hoạt động nhanh chóng trở thành cực kỳ phức tạp và tương tác ở các quy mô lớn hơn.








HÌNH MỘT: So sánh giữa quá trình phát triển phôi thai chân của dơi và chuột—một quá trình phân biệt lần lần của cái toàn thể với các phần mới—nhưng luôn luôn bảo toàn cấu trúc.
Cấu trúc giống như sự sông bên ngoài sự sống

12.1
Ngưởi ta cũng có thể thấy cùng một loại quá trình đó trong các hệ thống phi-sự sống, chẳng hạn, quá trình đơn giản của một giọt nhỏ sữa rơi xuống va chạm vào màng sữa mỏng (Hình Hai). Tại bất kỳ giai đoạn nào của quá trình, đều có một cấu trúc toàn thể với các phần gắn bó (mà giống một cách đáng ngạc nhiên sự hình thành bàn chân và chân trong quá trình phát triển phôi thai ở trên). Tại mỗi giai đoạn, đều có hoạt động năng động toàn diện chuyển dịch/biến đổi những toàn thể này và các phần của nó—về bản chất vẫ là một quá trình năng động tương đối đơn giản. Nhưng tại mỗi thời điểm, cái toàn thể này phân biệt và kết thành trong các phương cách mới và đáng kinh ngạc, tăng dần sự phong phú đáng ngạc nhiên—ngay cả trong một ví dụ đơn giản giống như giọt sữa rơi ở trên.












HÌNH HAI: Hình ảnh chụp nổi tiếng của Edgerton về giọt sữa rơi xuống va chạm vào một màng sữa mỏng.
12.2
Lại một lần nữa, ở đây là quá trình phân biệt liên tục, theo sau một quá trình đứt đoạn-đối xứng. Có một sự tương tác qua lại của tất cả các hạt sữa với những lực khác nhau khi chúng tác động lên nhau (chủ yếu là các sức căng bề mặt). Những lực này có thể phủ chồng lên các miền khác nhau, sao cho chuyển động của một giọt này có thể kéo theo các giọt lân cận thông qua sức căng bề mặt. Tất cả những quá trình sinh tạo này tạo nên các kiểu mẫu đặc trưng. Một “công thức nấu ăn” có thể được tạo ra để hình thành một cấu trúc như vậy, và bằng cách làm đa dạng các kiểu mẫu được thiết lập lúc đầu (chẳng hạn độ dày của màng sữa trên bề mặt) người ta có thể có được kết quả là các kiểu mẫu đa dạng khác.
12.3
Thực chất, Alexander ghi nhận rằng quá trình phát sinh hình thái (morphogenetic) này thường kèm theo sự tăng dần lên các thuộc tính hình học giống nhau, dù là trong sinh học hay trong các hệ thống tự nhiên: các trường trung tâm mạnh, các đường biên [dày-ND], sự lặp xen kẽ, các mức tỷ lệ, đối xứng cục bộ, vân vân. Đến lượt chúng có thể gắn với cơ chế năng động chi tiết của quá trình chuyển biến và quá trình chuyển biến của tập hợp các trường “trung tâm” hoặc các trường địa phương. Đây là thuyết vật hình được phát triển tới mức miêu tả rõ ràng hơn.
12.4
Đối với Alexander thật rõ ràng từ các nghiên cứu sinh học mới đây rằng các quá trình tạo nên sự sống bản thân chúng là tự nhiên và có thể sinh ra các cấu trúc có các thuộc tính giống như sự sống. Ông kết luận, điều đáng ngạc nhiên hơn là từ các ví dụ thực nghiệm của ông, chúng ta có thể đánh giá “mức độ sự sống” (degree of life) trong một cấu trúc cho trước, bao gồm cả môi trường nhân văn, hơn thế nữa đây không chỉ là sự tương ứng, mà là một sự miêu tả mang tính sự kiện của các đặc điểm của một cấu trúc đã cho. (Ý tưởng này có vẻ là đang tranh cãi ở một số bộ môn học thuật, nhưng khi được soi rọi từ lăng kính của Chủ nghĩa kết cấu, nó không dứt khoát là vậy: cuộc sống là một loại quá trình cấu trúc, và nó có thể và đang xảy ra trong các hình thức “tiền thân”)
12.5
Ở quy mô đô thị, một kiểu quá trình như vậy cũng được quan sát. Ví dụ như sự chuyển biến lần lần của Piazza San Marco ở Venice (Hình Ba) có thể được coi như bao gồm sự biến hình của cái toàn thể, cùng là một loại toàn thể hình thành nên các miền trung tâm mới và cùng một loại phân biệt không gian thành các tiểu không gian kết tụ.















HÌNH BA: Một phần của quá trình biến hình bảo toàn cấu trúc liên tục trong sự tiến hóa của quản trường Piazza San Marco ở Venice. Được thể hiện ở đây một giai đoạn khoảng chừng 300 năm
Các ngụ ý triết học: Nơi chốn của giá trị và nơi chốn của số lượng

13.1
Với Alexander, nhà Cấu trúc chủ nghĩa, giá trị có thể được hiểu như là cấu trúc của những gì là có sự sống và thịnh vượng, và những gì khuyến khích và tăng cường các cấu trúc đó. Theo nghĩa này, cái gì là có giá trị có thể được coi như một loại làm cho phù hợp mang tính cấu trúc cho vấn đề tiên nghiệm của sự sống và sự thinh vượng.
13.2
Điều này có thể khác biệt giữa các cá nhân đang tham gia vào một cuộc cạnh tranh, họ có thể trải nghiệm các giá trị khác nhau từ cùng một kết quả nếu nó làm lợi cho người này mà không phải là người kia. Chẳng hạn một cô gái đang lựa chọn giữa hai chàng trai. (Ví dụ này chỉ ra rằng Alexander có thể đáp ứng sự đa dạng trong khi duy trì một định nghĩa chung về giá trị, phản lại cái tuyên bố của một vài nhà phê bình của một thứ ngụy biện đáng khinh, hoặc tệ hơn một “thứ chủ nghĩa chính thống mang màu sắc giá trị”). Tuy vậy, cái giá trị này có thể được hiểu một cách hợp lý như là một loại cấu trúc (trong ví dụ trên là cấu trúc của sự tán tỉnh và gia đình). Còn khi các cá nhân đang hợp tác, nó chắc chắn được người ta chia sẻ.
13.3
Nhưng cái gì là có giá trị thì không chính xác như cái gì là có phẩm chất. Tôi có thể coi là có giá trị hoặc không giá trị màu đỏ, nhưng trong trường hợp này hoặc trường hợp kia tôi trải nghiệm nó như là phẩm chất. Vậy phẩm chất là gì? Cái gì tạo thành khía cạnh phẩm chất của các sự vật?
13.4
Chúng ta biết rằng trong trường hợp của màu đỏ, có một kiểu sóng từ nguồn năng lượng sáng, trong khoảng một phần 650 triệu mét từ đỉnh sóng này đến đỉnh sóng khác. Nếu chúng ta thay đổi tần số, ánh sáng sẽ không còn là màu đỏ nữa. (Nếu chúng ta điểu chỉnh song thành một phần 460 triệu mét, ánh sáng trở thành “xanh”). Theo nghĩa này “tất cả đã là” màu đỏ, nhưng theo nghĩa khác, mới chỉ là sự khởi đầu của cái gọi là màu đỏ.
13.5
Giờ chúng ta có thể bắt đầu thấy rằng màu đỏ/tính đỏ là một tính chất phức tạp, đang xuất hiện nhưng là thuộc tính không có gì là bí ẩn từ cái hệ thống cấu trúc nên tôi, bộ não của tôi, mắt của tôi, nguồn sáng, cái đối tượng “đỏ” là xu hướng của nó hấp thu các không-đỏ và vân vân. Chất lượng của màu đỏ/tính đỏ có thể chỉ dựa trên việc giải thích như là một thuộc tính của toàn hộ hệ thống. Khi ta cố gắng phân tích/phân giải hệ thống đó thành một tập hợp các thành phần đơn giản là khi ta đã đánh mất các cơ sở năng động chủ chốt của hệ thống—và các mối liên hệ nhỏ nhưng quan trọng với các thành phần bên ngoài.
13.6
Thêm vào đó chúng ta đã bỏ qua khả năng của hệ thống sản sinh ra những gì mà ta trải nghiệm như “ý nghĩa” như ví dụ sau đây sẽ minh họa. Trong một điều kiện nơi một số thành phần cấu trúc của hệ thống không cùng làm việc theo một cách—chẳng hạn, đối với những ai có sự thay đổi rất phức tạp trong cấu trúc xử lý màu của bộ não vì hậu quả của một sang chấn—“tính đỏ” không tồn tại. Một người có thể nói “À, vâng, màu “đỏ” tồn tại, chỉ có bạn không nhận thức được nó thôi” Nhưng thực sự không phải như thế. Những gì mà ban gọi là “màu đỏ” như là một sự trừu tượng hóa vẫn còn hiện diện—nhưng lại không phải là thuộc tính đang xuất hiện của tính đỏ. Cũng giống như khi nói “À, vâng, màu “gruengepled” [ý nói là màu được gọi tên bằng một cách quá kỹ thuật-ND] cũng tồn tại ở bước sóng một phần 5 triệu mét, chỉ có bạn là không nhận thấy nó thôi, ngoài ra ai nấy cũng đều thấy”. Mệnh đề này không sai chỉ có điều nó vô nghĩa. Chúng ta đơn giản là không quan tâm đến cấu trúc này, bởi vì nó không bao gồm một cái toàn thể nổi bật liên hệ với kinh nghiệm của chúng ta. Chúng ta không gọi nó là màu, còn nếu chúng ta mô tả nó là bởi vì các nguyên nhân thứ cấp hơn nhiều (vi dụ chúng ta phát hiện một số thuộc tính trong phòng thí nghiệm, nơi rất xa từ kinh nghiệm thường ngày, trong trường hợp chúng ta có thể gọi tên tần số của nó cho những người phát minh, nhưng chúng ta có vẻ như không sẵn sàng mô tả nó như là cái gì đó thật nổi bật như là một “màu”).
13.7
Một lần nữa để miêu tả nó như là một màu, theo nghĩa đen là hoàn toàn vô nghĩa. Còn nếu giờ chúng ta miêu tả tính đỏ như là một màu thì chắc chắng là có ý nghĩa. Vì thế Alexander mang chúng ta trở lại với lý thuyết cấu trúc toàn diện về ý nghĩa.
13.8
Điều gì là có ý nghĩa với chúng ta thì rất gần với có “vấn đề” với chúng ta với tư cách là các cấu trúc sự sống, nghĩa là những gì mà chúng ta gặp phải và coi là quan trọng như là các tổ chức sống, trong sự tham gia tiên nghiệm của chúng ta trong thế giới (mặc dù khả năng của chúng ta phân biệt một cấu trúc có thể được phân giải thành các hiện tượng này). Thực chất, “cái vấn đề’ không phải là gì hơn là ‘có vấn đề với chúng ta”, là cái gì có chuyện với chúng ta, là cái gì mà theo cách của nó là có “nghĩa vật chất” với chúng ta. Những sự trừu tượng chúng ta sử dụng là tất cả những gì thứ cấp, và mãi là dẫn xuất từ cái điều kiện tiên nghiệm này.
13.9
Như Whitehead đặt vấn đề một cách thuyết phục rằng, điều quan trọng là cái tiền đề logic của những gì mà chúng ta coi là “sự kiện” (Whitehead 1938:18), đó là một loại mánh lới của bộ não, hoặc chính xác hơn là một sự trừu tượng để giả định cái ngược lại là sự thật. Dĩ nhiên, sự trừu tượng luôn luôn là hữu dụng, nhưng sự trừu tượng là (một lần nữa Whitehead đã chỉ ra một cách rất trúng) sự bỏ mất một phần sự thật (Whitehead 1938:123, 138).
13.10
Chắc chắn là có một cơ sở sinh học hoàn chỉnh cho tất cả mọi thứ này. Trở lại với cái ví dụ về màu đỏ, có thể (và chắc chắn là thế) có các hiện tượng cấu trúc đang xảy ra mà chúng ta có thể không nhận thấy (ví dụ, cách mà các quá trình nhận thức cụ thể làm việc, việc chuyển từ nhận thức màu với các đối tượng kề cận, vv...) Nhưng điểm quan trọng là chúng ta có khả năng nhận lấy toàn bộ các điều kiện cấu trúc này (hoàn chỉnh nhưng phức hợp) và trải nghiệm phẩm chất hiện ra. Điều này giống như việc kết hợp với nhu cầu của các hệ thống sự sống tạo nên các quyết định nhanh chóng từ các trường kích thích.
13.11
Vì thế tôi có thể nhận thấy một cách nhanh chóng tính chất đỏ của một ngọn lửa đang theo sau tôi, cùng lúc đó tôi có thể nhận thức được bầu trời xanh ở hướng khác đang mời gọi tôi thoát thân. Tôi có thể không kém nhanh nhạy hơn trong việc ngửi thấy mùi gỗ cháy, mà phải diễn ra thông qua một chuỗi các quá trình rất phức tạp và rất tinh vi trong bộ não. Thực chất là tôi đã làm cái việc tổng hợp phức tạp (thực ra là vô cùng phức tạp) đó hàng ngày về chuyện cái gì đang diễn ra một cách cấu trúc và trải nghiệm những thông tin đầu vào phức hợp như là các loại cảm giác mang tính định tính. Tôi có thể hành động như là một cơ thể theo cách mà nhiều khả năng nhất bảo toàn và tăng cường cấu trúc của bản thân tôi.
13.12
Vì thế chúng ta cũng có một lý thuyết cấu trúc chủ nghĩa về chất lượng và cảm xúc, bắt nguồn không chỉ trong các nhu cầu sinh học mà trong cấu trúc phức hợp của cái toàn thể sinh học. Tôi có thể cảm thấy khỏe hoặc bệnh, hạnh phúc hay đau buồn dựa trên một số lượng lớn các thông tin đầu vào bên trong và bên ngoài phức hợp, được biến chuyển một cách cấu trúc. Nhưng cảm xúc của tôi và phẩm chất của những sự vật mà tôi nhận thức không phải là các tình trạng nguyên tử đơn giản mà là các trường bao la của cái toàn thể, cấu trúc của chúng là phức tạp, giàu có, và đa dạng.
13.13
Hơn nữa, dựa trên định nghĩa của tôi về sự lựa chọn thông qua cơ chế của ý nghĩ và ngôn ngữ và quyền lực chuyển biến của nó, tôi có thể hành động để thay đổi chúng và các đồng chí của tôi cũng có thể làm thế, bằng cách đó tạo nên một cơ chế năng động của văn hóa và của cuộc sống. Nhưng tôi phải làm điều đó với kỹ năng và với sự cẩn trọng sao cho không tạo nên các sai lầm chết người hoặc sử dụng sai khả năng của sự trừu tượng để làm hé lộ ra các kiến giải hữu ích mang tính cấu trúc.
13.14
Nếu tôi hành động với sự cẩn trọng, tôi thấy rằng cấu trúc mà tôi tạo nên có một sự phù hợp sinh học với chúng làm tôi thấy cực kỳ hấp dẫn. Tôi tìm thấy các đặc điểm thẩm mỹ về cái đẹp. Tôi tìm thấy rằng chúng hấp dẫn về các nhu cầu sinh học và văn hóa quan trọng mà theo các mức độ khác nhau, vừa mang tính bẩm sinh và vừa mang tính có thể thay đổi được
13.15
Nhưng bản chất của cấu trúc này không làm giảm những gì có thể cảm nhận hoặc trải nghiệm được quát trình cấu trúc đầy quyền năng của sự sống. Nó chỉ có nghĩa là chúng ta có thể cùng biết những quá trình này, trong khả năng của chúng ta “thấy” một cách đẳng hướng, cái cấu trúc thiết yếu, và cùng lúc đó các khía cạnh tương hỗ và (với chúng ta như các tổ chức sống) có ý nghĩa.
13.16
Một ví dụ từ âm nhạc có thể làm rõ quan điểm của tôi. Tôi thấy bản Prelude số 1 của Bach từ “The Well-Tempered Clavier” là cực đẹp, và thực chất là tôi có thể thấy một đoạn cụ thể với một sự thay đổi nốt A giáng là đặc biệt đẹp. Nhưng nếu tôi rút nút A giáng đó ra khỏi bản nhạc, nó không còn quyền năng gì cả. Nó không phải là một thành phần độc lập để có thể thêm vào các thành phần khác để sản sinh ra một hiệu quả tích tụ đơn giản. Thay vì thế, nó là quyền lực đến từ vị trí của nó trong một trường các mối quan hệ. Sự đối xứng của các mối quan hệ này với các phần của bộ não tôi và với các phần khác của cuộc sống của tôi là đặc biệt thích thú và đẹp đẽ.
13.17
Ví dụ nhỏ này bao hàm các tỷ số của Pythagoras của giao động âm nhạc, cái tình trạng vật lý của sự nghe, cái mức độ cao của quá trình xử lý thần kinh trong não tôi, cái chức năng tiến hóa của nhận thức của tôi về âm thanh, cái khí chất văn hóa của tôi trong việc cảm nhận âm nhạc (bao gồm cả khí chất liên quan đến quy mô, bản thân nó là một sự phát minh cấu trúc),
13.18
Cả vũ trụ vì thế được tải ra thông qua ý nghĩa và được tải ra thông qua cấu trúc. Nó sống động và cùng với thời gian nó là cấu trúc. Không có mâu thuẫn nào cả.
13.19
Chúng ta sẽ bàn thảo những ngụ ý này với người thiết kế ở dưới đây kỹ hơn. Nhưng một ngụ ý có ý nghĩa rất sâu sắc: các đặc tính của môi trường xây dựng mang theo giá trị tương đối với các cá nhân—và giá trị có thể, theo các mức độ khác nhau được cùng chia sẻ. Cái Mỹ (và cả cái Thiện, cái Chân) không phải nằm trong cặp mắt của người nắm giữ, mà là nằm trong tiếng vọng cấu trúc phức hợp giữa cá nhân và thế giới xung quanh. Nó là tình trạng hoàn thiện của sự việc. Sự kiện này có nhiều ngụ ý với người thiết kế.
Jance Jacobs: Loại vấn đề của thiết kế
14.1
Chúng ta đóng lại cuộc thảo luận ngắn ngủi này với một nhà thông thái nữa với một phả hệ tư duy Cấu trúc, đó là học giả đô thị Jane Jacobs. Công trình đô thị phi thường của bà được xuất bản năm 1961, cùng khoảng thời gian mà Alexander phát triển luận án tiến sĩ của mình, đó là tác phẩm Cái chết và sự sống của các thành phố lớn của Mỹ. Giống như Alexander, Jacobs muốn biết làm thế nào mà quá trình thiết kế của chúng ta đã đi đến sai lầm và phá hủy sự sống và chất lượng của các thành phố hiện đại. Giống như Alexander, bà cảnh giác thói quen kỹ trị của các nhà quy hoạch hiện đại khi họ áp đặt các sơ đồ thu gọn về thành phố theo kiểu áp đặt từ- trên- xuống. Và cũng giống như Alexander bà không chỉ than khóc cho tình huống hiện tại mà lại đưa ra một giải pháp chi tiết và sáng suốt cho cấu trúc của cái gì đang thực sự diễn ra—và ta có thể làm gì với nó.
14.2
Trong chương cuối của tác phẩm của mình, bà đã ghi nhận thành quả của sự phát triển của khoa học về sự phức hợp hiện đại (biểu hiện sự ghi nhận của bà với Tiến sĩ Warren Weaver của Quỹ Rockefeller), một sự ghi nhận vẫn còn là đáng kể trong lĩnh vực này. Giống như Alexander, bà mô tả về thuyết mereology của nhiều biến cùng hành động cùng nhau, và tầm quan trọng của việc hiểu các mối quan hệ qua lại chằng chịt như mạng nhện của chúng, vượt ra ngoài sự kết nối đơn giản của một vài biến hoặc hành vi trung bình của nhiều biến. Đó là nơi mà các hệ thống sự sống cỏ vẻ như hoạt động, trong một lĩnh vực mà bà miêu tả như là “quá trình phức hợp có tổ chức”.
14.3
Giống như Alexander, bà cũng áp dụng cái tương tự của các hệ thống sự sống—có lẽ đối với bà, nó không chỉ là sự tương tự-- vào “sự sống” của các thành phố. Chúng ta cần phải nhìn theo những cách tinh tế nhất những biến số của một hệ thống đô thị tương tác lẫn nhau và chúng ta cần phải tôn trọng cái tinh tế và các yếu tố “phi trung bình” mà có thể đóng góp nhiều hơn là chúng ta tưởng (Những điểm này song song với những gì mà Alexander gọi là “phủ chồng”). Chúng ta phải hiểu “vấn để của thành phố là gì” đó là “sự phức hợp có tổ chức” như là một loại vấn đề sinh học.
14.4
Một trong những đóng góp quan trọng của Jacobs là trong lĩnh vực kinh tế. Bà cho rằng chúng ta phải hiểu kinh tế như một hệ thống động giống như bất kỳ hệ thống nào trong tự nhiên (điều này được bàn rất hùng hồn trong tác phẩm của bà Bản chất của các nền kinh tế): nhưng giống như bất kỳ hệ thống nào như vậy, cái tín hiệu phản hồi bên trong hệ thống có thể bị đứt đoạn, hoặc cung cấp các tín hiệu sai lạc. Vì thế nền văn hóa của chúng ta có thể trải nghiệm các khuyến khích sai lầm và hành động một cách không hợp lý. Những gì là lành mạnh và hợp lý có thể thực chất là một loại tiếng ồn phát ra từ phòng vang âm của các chuyên gia.
14.5
Jacobs là một nhà phê bình sắc sảo với các nhà quy hoạch hiện đại người dường như có ý định đạt được một trật tự duy lý bằng cách sàng lọc những gì là “bừa bãi” của các hệ thống đô thị-- một khái niệm quy hoạch mà bà liên hệ một cách khinh miệt như là “sự phân loại có tính khử nhiễm”. Điều này gợi lại lời phê bình của Alexander về cách ứng xử hiện đại đối với các thành phố như là “các cây phả hệ” toán học—và thất bại trong việc hiểu các khái niệm phủ chồng và tính phức hợp bên trong các cấu trúc của chúng. Thay vì thế Jacobs thúc dục khái niệm sử dụng hỗn hợp và khuyến khích sự đa dạng bên trong một khu vực lân bang.
14.6
Jacobs cũng không kém khinh miệt với các kiến trúc sư, đặc biệt với những người giống như Le Corbusier, tìm cách thay thế trật tự bên trong phức hợp của thành phố bằng một trật tự ngoại lai, thuần túy thị giác từ bên trên. Bà thảo luận, một thành phố không phải là một công trình nghệ thuật và không thể được đối xử như thể một khuôn vải của người họa sĩ để mà thể hiện trí tưởng tượng về mặt bố cục của ai đó. Thật là một sự nhầm lẫn những thành phố thực với các hình ảnh đơn giản hóa về chúng:
Khái niệm của ông ta, như là một công trình kiến trúc, có một sự rõ ràng đến sáng chói, sự đơn giản và sự hài hòa. Nó quá đỗi trật tự, quá đỗi rõ nét, quá dễ hiểu. Nó nói mọi thứ trong một tia đèn nháy của máy ảnh, giống như một thứ quảng cáo...Nhưng như cách các thành phố vận hành, nó kể về, giống như Thành phố vườn, chẳng gì ngoại trừ lời nói dối.
(Jacobs 1961:23)
14.7
Theo một nghĩa nào đó, Jacobs đã phát đi lời phủ nhận cuối cùng tới hình thức hiện đại của chủ nghĩa duy tâm Plato, vốn đạt đỉnh cao theo một loại giải kết cấu đặc biệt của “chủ nghĩa chính thống hình học”. Nhưng bà không phải theo kiểu vặn tay, kiểu cẩu thả (laissez-faire) kiểu Hậu kết cấu. Bà thảo luận một cách rất thuyết phục—và có ảnh hưởng rất cao—cho một cách tiếp cận mới với thành phố, sử dụng các phương pháp và công cụ quy nạp một cách nhẫn nại, và sử dụng một cách tiếp cận đa ngành tôn trọng những gì đã tồn tại và những gì đang vận hành. Nó làm rung động các lý thuyết đơn giản về trật tự mà lại đang diểu hành như là trật tự thực sự và thay vì thế dựa vào quan sát sắc sảo về sự phân biệt và tính phức hợp địa phương. Nó là một công thức chế biến thực tế phối hợp thiết kế với lập trình, xã hội học với kinh tế học và lý thuyết với những gì là cảm nhận thông thường.
Chất lượng cuộc sống: Một chủ nghĩa thực dụng mới, một Chủ nghĩa cấu trúc mới

15.1
Cả Alexander và Jacobs giờ đây đều trình bày một quan điểm coi cái thất bại thảm họa của tính hiện đại như là hoàn toàn có thể sửa chữa được—nếu chúng ta học được những bài học cấu trúc đã có. Cả hai đều kiếm tìm để học hỏi những bài học từ quá trình sinh học và từ các khoa học mới về sự phức tạp đang bùng nổ. Cả hai đều nhìn thấy các khía cạnh chất lượng không thể tránh được của vấn đề và cách chẩn đoán nó. Cả hai đều nhìn thấy sự tạo thành các thành phố và công trình như là một quá trình xuất hiện dần và tự tổ chức—là quá trình mà trong đó giá trị nhân văn, thiết kế nhân văn, đóng một vai trò quan trọng.
15.2
“Thiết kế” ở đây không phải là thuyết vật hình phối hợp kiểu Aristotle cũng không phải là chủ nghĩa duy tâm toán học của Plato. Thay vì thế nó là một ngành học có những bước chuyển biến trong quan hệ tương hỗ của kiểu mẫu này với kiểu mẫu khác—dù chúng là kiểu mẫu trong không gian hay kiểu mẫu tư duy. Dĩ nhiên, giờ đây có thể nói chính xác rằng không có sự khác biệt cơ bản nào giữa hai kiểu mẫu: thế giới có thể được xem như bao gồm một mạng lưới của các kiểu mẫu mà có khả năng phản ảnh lẫn nhau theo các khía cạnh hữu hiệu và giống như ngôn ngữ. Những kiểu mẫu này được thấy trong khắp môi trường xây dựng, trong bộ não chúng ta, và trong những phần khác của thế giới. Đây chính là một vũ trụ của những kiểu mẫu.
15.3
Alexander và Jacobs là hai trong số các học giả xuất chúng đã nắm lấy những thông tuệ của các môn học khác nhau và ở các mức độ khác nhau. Trong số đó là lĩnh vực ngày càng phát triển của ngành thiết kế dựa-trên- bằng-chứng. Nó bắt nguồn với lĩnh vực chăm sóc y tế, rồi dần dần phát triển ra các môi trường khác nơi mà bằng chứng hiển nhiên của chăm sóc y tế có tác động. (Chẳng hạn cái gọi là môi trường vùng ngoại vi đô thị bị “bệnh lý béo phì” (“obesogenic” suburban environment), nơi thiếu vắng khả năng cho tập luyện thể thao và lại phụ thuộc vào các cửa hàng mua đồ ăn từ trên xe (drive-through) đang đóng góp vào cái sự khủng hoảng tăng dần trong tốc độ béo phì ở Mỹ và ở mức độ ít hơn tại các nước khác).
15.4
Tuy nhiên có những mối nguy trong việc kèm những bằng chứng một cách quá máy móc vào thiết kế: nếu như buổi thảo luận này có chỉ ra bất cứ thứ gì thì đó là sự phối kết mereology [quan hệ thành phần bộ phận-ND] đã không làm được việc. Nhưng chúng ta có thể bắt đầu thấy rằng bằng cách sử dụng quá trình quy nạp, cung cấp các kiểu mẫu, và rồi tinh chỉnh một cách tùy ứng, sử dụng tiếp cận thực nghiệm và tiếp cận dựa trên bằng chứng có thể đem lại thành quả lớn.
15.5
Một trong những phát hiện mới đáng kinh ngạc trong lĩnh vực thiết kế môi trường là trong tác động của chăm sóc ý tế đến một loạt các đặc điểm thẩm mỹ khác nhau. Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng một số đặc điểm cụ thể trong môi trường xây dựng sản sinh một cách ổn định các hiệu quả y tế có lợi, trong khi các đặc điểm khác lại không. Ví dụ Ulrich (1984) đã chỉ ra rằng những bệnh nhân có được tầm nhìn ra một cảnh quan tự nhiên phục hồi nhanh hơn và thành công hơn từ ca phẫu thuật so với những người có tầm nhìn tới bức tường trắng. Các đặc điểm khác như cây trồng, nước, ánh mặt trời, và những thứ giống như thế đều có các hiệu quả tương tự đến nỗi hiện tại đang có nỗ lực phục hồi lại các bệnh viện với vườn cây và các tiện nghi tương ứng.
15.6
Cái khám phá này về tầm quan trọng của các cấu trúc tự nhiên trong môi trường nhân tạo—được gọi với cái tên “biophilia”—dường như là một đại lộ đầy hứa hẹn dẫn đến các nghiên cứu tương lai. Nó có vẻ như rất giống với những gì là sự ưu tiên cho các cấu trúc như vậy. Thêm vào đó như các công trình của Alexander đề xuất, nó có thể là cấu trúc như vậy cung cấp cái toàn thể đậm đặc hơn, giàu có hơn, mà có thể đáp ứng những nhu cầu của nhân loại trong môi trường [xây dựng-ND] của chúng ta.
15.7
Điều này không phải là thuần túy vấn đề tầm nhìn thị giác. Thực chất, một vài nghiên cứu chỉ ra rằng hiệu quả từ các cảnh quan thị giác thuần túy suy giảm nhanh chóng. Có vẻ như hiệu quả mạnh nhất đến từ khả năng của chúng ta di chuyển qua môi trường, tương tác với con người, tia thấy các triển vọng, tìm thấy nơi trú ẩn, định hình các cảnh quan, trải nghiệm các bộ lọc của âm thành và tầm nhìn mà chúng ta tìm thấy các trải nghiệm sung mãn trong môi trường xây dựng.
15.8
Những phát hiện này đề xuất rằng trong khi nhận thức của người sử dụng là rất thiết thân cho sự hạnh phúc của họ, sự nhấn mạnh của các kiến trúc sư về bố cục của công trình như là các đối tượng của cách xử lý của các nhà đô thị học với cảnh quan chẳng hạn như các cảnh quan thị giác, là đặc biệt không đầy đủ. Chúng ta phải tập trung chú ý nhiều hơn vào hệ thống có các mối quan hệ và vào các lớp và các bộ lọc giữa những vùng liên kết—đó là, vào chuỗi các trải nghiệm khả thể-- nếu chúng ta muốn có môi trường tốt đẹp nhất, phát đạt nhất. Một lần nữa, cái logic của trình tự như vậy là cấu trúc giống như ngôn ngữ.
15.9
Điều phát hiện này cũng có một ngụ ý quan trọng khác. Các nhà hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực môi trường phải tự xem mình như có một trách nhiệm cao, thậm chí như trách nhiệm Hippocratic với sức khỏe của người sử dụng. Họ không chỉ là người kỹ sư giao thông đô thị, hoặc kiến trúc sư-nghệ sĩ của các thể loại bố cục thị giác hoặc điêu khắc. Họ là một loại bác sĩ của môi trường xây dựng.
Kêt luận
16.1
Làm thế nào để chúng ta tổng kết lại những bài học khoa học và triết học cho những người thiết kế? Tôi đề xuất rằng chúng định hướng cho chúng ta về một cải cách cơ bản trong phương pháp thiết kế-- đó là các phương pháp ít hơn về hướng sáng tạo của người nghệ sĩ, mà giống nhiều hơn các quá trình của bác sĩ. (Cần phải nói ngay rằng khả năng sáng tạo của người nghệ sĩ chắc chắn không bị giới hạn, mà được tái hòa nhập vào trong một quá trình lớn hơn). Hoặc để dùng một phép ẩn dụ khác hữu hiệu hơn, cách tiếp cận trong thiết kế của chúng ta có thể ít giống hơn công việc của một người thợ mộc (vạch quy hoạch và lập bản thiết kế một cấu trúc, sau đó tạo mộng, cưa, lắp ráp, v.v...) mà giống hơn với người làm vườn (gieo hạt, tưới nước, tỉa cành, nhổ cỏ dại, dựng giàn leo, v.v...) Như Jacobs và Alexander đã nhắc nhở chúng ta, chúng ta phải lập kế hoạch cho những cái không lập kế hoạch, và phải thiết kế cho cái đang hiện ra. Tất nhiên có một ngành khoa học duy lý để làm điều đó.
16.2
Tóm lại, chúng ta có thể mô tả các bước trong đó một quá trình thiết kế có thể thực hiện như sau:
16.3
Một chuỗi các hành động thiết kế sẽ tiến triển chủ yếu như là một loạt các bước biến hình dựa theo quy luật.
Chuỗi hành động này phải bắt đầu bằng như ghi nhận và tùy ứng vào các điều kiện ban đầu như là một tổng thể.
Điều này yêu cầu một sự chẩn đoán cẩn thận mang tính định tính về “điều kiện ban đầu” (ví dụ, bác sĩ sẽ bắt đầu không phải bằng một loạt các xét nghiệm, mà bằng cách hỏi “hôm nay ông cảm thấy thế nào?”
Những đặc điểm định lượng này chính là “cái thực tế thực sự”—và nói chung có thể chia sẻ được
Điều này mang theo nó những ngụ ý trong giá trị của các chiến lược thiết kế cộng tác. Một số hệ quả quan trọng cũng bắt nguồn từ đó:
Chúng ta phải đáp ứng với bằng chứng cái gì là thành công trong thiết kế, sử dụng các phương pháp quy nạp, thay vì dựa hoàn toàn trên các kết luận diễn dịch từ lý thuyết.
Chúng ta không thể hành động theo kiểu thành phần đơn lẻ, thay vì đó, chúng ta phải hành động thông qua việc chấp nhận cái toàn thể, và sự hiệu chỉnh tùy ứng khi cần thiết;
Những toàn thể này có thể được coi như các kiểu mẫu thiết kế, cùng với các quy luật chung với sự chuyển đổi và tùy ứng theo cục bộ.
Những toàn thể đã trải qua sự tiến hóa tùy ứng có thể yêu cầu sự thích ứng thêm, tuy vậy nó ưu việt hơn rất nhiều sự phối hợp các thành phần đơn lẻ.
16.4
Điểm cuối cùng đáng để chúng ta đào sâu suy nghĩ hơn. Trong nhiều thế hệ chúng ta thường dùng cách tiếp cận tối giản luận (reductionist), một cách tiếp cận được gọi là tabula rasa trong quá trình thiết kế, hình dung rằng chúng ta có thể “bắt đầu từ số không” và “sử dụng trí tưởng tượng của ta” để sử dụng các cấu trúc thành phần riêng lẻ để bố cục nên những thiết kế tuyệt vời, hoàn hảo về công năng và có hiệu quả. Nhưng giờ đây chúng ta có thể thấy được tinh chất dối trá nguy hiểm của kiểu tiếp cận này. Chúng ta có thể thấy rằng chúng ta dựa quá nhiều vào một nguyên tắc tổng hợp thiết kế--đó là sự làm suy giản và tái phối hợp—để mà thất bại trong việc hiểu được quyền năng của quy nạp và phân biệt.
16.5
Còn có một mối nguy liên quan nữa của phương pháp chính thống chủ nghĩa theo xu hướng hiện đại. Nó nằm trong sự nguy hiểm được kế thừa của phép trừu tượng hóa, sẵn sàng lừa chúng ta ra khỏi tính tùy ứng nghiêm cẩn của phương pháp và rơi vào địa hạt bị bỏ bùa mê của phép tổng hợp thuần túy trừu tượng. Alfred North Whitehead đã chạm tới chủ đề này, không ở đâu rõ ràng hơn khi ông viết Các hình thức của tư duy năm 1938:

Nhân loại khác biệt khỏi lối sống đông vật bởi sự nhấn mạnh ở các phương pháp trừu tượng. Nhưng sự suy đồi của nhân loại lại được nhận ra từ sự trỗi dậy của nó thông qua sự thống trị của các trừu tượng đến ớn lạnh, tách biệt khỏi nội dung thẩm mỹ.
(Alfred North Whitehead 1938)

16.6
Hoặc chúng ta có thể bổ sung, nó [sự suy đồi- ND] được nhận ra bởi những sự trừu tượng cung cấp các phẩm chất thẩm mỹ tách ra của riêng chúng, tách biệt một cách nguy hiểm khỏi những thực tại cận kề của nơi chốn và sự sống.
16.7
Còn rất nhiều ngụ ý khác đang chờ đợi được phát hiện. Chúng ta tổng kết một vài điểm nổi bật ở đây:
16.8
Thiết kế chủ yếu không phải là một quá trình tạo nên các bố cục mới, mà chủ yếu là tạo nên các trường quan hệ mới giữa các cấu trúc hiện tồn.
Những mối quan hệ có tầm quan trọng trung tâm trong khả năng của chúng cung cấp các trình tự trải nghiệm cho người sử dụng, và trình tự các mối quan hệ.
Ở mức độ đô thị, những mối quan hệ này sẽ đáp ứng các nhu cầu của con người, và vì thế có vẻ bao gồm: mức độ tương tác xã hội cao hay thấp; mức độ hoạt đồng cao hay thấp đối lại với sự tĩnh lặng; mức độ công hoặc tư, không gian nửa công hay nửa riêng tư.
Những khu vực mà các yếu tố này thay đổi có các thuộc tính hình học xác định mà có thể được xác định từ những quy mô đô thị lớn nhất, xuống đến tận các tỷ lệ kiến trúc và chi tiết. Chất lượng của chúng phải bao gồm các mối quan hệ qua lại liên tục, thậm chí ngay cả khi chúng chứa đựng sự tương phản và tính hay thay đổi.
Những thuộc tính hình học này thực chất có thể được mã hóa thành các quá tình thuật toán, như được trình bày bởi sự tạo thành hình thái tự nhiên (natural morphogenesis), và mức độ cao của sự gắn bó tùy ứng xuất hiện từ quá trình này. Có những quá trình tương tự bên trong các quá trình thiết kế truyền thống hiện tồn, và bên trong kho tàng các kiểu mẫu vốn có thể dùng được cho thiết kế tùy ứng và chuyển biến.
Điều này mở toang cánh cửa cho một loại “luật generative” mới rất đáng quan tâm, cho thể cho phép đạt tới một mức độ gắn kết tùy ứng của các khu định cư truyền thống—nhưng không cần phải có cùng các điều kiện xã hội và chính trị. (Bao gồm các điều kiện bây giờ có thể bị cho là lạc hậu và không thể chấp nhận được).
Nói rộng ra, điều này mở ra cánh cửa cho những loại quá trình văn hóa mới, mà bản thân chúng phải chịu cùng những nguyên tắc “thiết kế”. Thực chất, những quá trình như vậy đang ngày càng tích hợp vào quá trình thiết kế, trong những gì đang trở thành một môi trường thiết kế phức hợp, liên ngành.
Những quá trình văn hóa như thế bao gồm nhiều quá trình có trách nhiệm, và thích ứng kinh tế, chính trị và xã hội hơn, kết tụ các kiến giải mới về tính năng động của lý thuyết trò chơi, quá trình mã nguồn mở, và nhiều thành công gần đây rất lý thú đang triển khai và ứng dụng các viễn kiến này.
16.9
Cuộc thảo luận này chỉ là một bàn tóm tắt ngắn gọn của một chủ đề rộng lớn và đang bùng nổ. Nhưng chúng tôi hy vọng rằng nó đề xuất quá trình đang được mong đợi, nhiều con đường đang mở ra cho những sự phát triển mới. Chắc chắn đây là một chân trời mới nhiều hứa hẹn.
16.10
Thêm vào đó, như chúng tôi hy vọng cuộc thảo luận này đã chỉ ra, chúng ta đang đứng trước một hoàn cảnh cực điểm, mà chúng tôi hy vọng là sự khởi đầu của một chương mới, của một cuộc đối thoại dài trong lịch sử về mereology, thuyết vật hình và chủ nghĩa duy tâm. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta không đi xa khỏi nền văn hóa Hellen—thực chất, trong tính hiện đại chúng ta lại tìm thấy rằng chúng ta đã trở lại những cội nguồn triết học của mình, nơi mà, như lời của T.S. Eliot, chúng ta “biết được nơi chốn trong lần đầu tiên”. Chúng ta trở lại với chủ nghĩa duy tâm Plato, trong các kiểu mẫu và các nguồn hấp dẫn cấu trúc của thời hiện đại, với thuyết vật hình của Aristotle, trong khoa học hiện đại, và trong quá trình chuyển biến bảo toàn cấu trúc của Alexander. Tuy thế, chúng ta cũng tiến những bước quan trọng để vượt lên trên chúng và để giải quyết những nghịch lý biểu kiến để lại từ thời xa xưa giữa vật chất và giá trị, giữa hình thức và sự sống. Nếu điều này là thật, nó có thể giải phóng chúng ta khỏi nhà tù của các ý tưởng trước của chúng ta, và đặt chúng ta vào ngưỡng của một sự phục hưng thực sự của cái có thể mang tính cấu trúc và mang tầm mức chất lượng, bên trong nền công nghệ của chúng ta, bên trong văn hóa của chúng ta. Có lẽ cái sự phục hưng đáng mong đợi đó đang bắt đầu.
Tài liệu tham khảo

Alexander, C. et al. 1977. A Pattern Language: Towns, Buildings, Construction. New York.

Alexander, C. 2003. The Nature of Order: An Essay on the Art of Building and the Nature of the Universe. (Vols 1–4). Center for Environmental Structure. Berkeley, CA.

Alexander, C. 1964. Notes on the Synthesis of Form. Cambridge, MA.

Alexander, C. 1977. The Timeless Way of Building. New York.

Aristotle. Metaphysics. Greek text with English: Trans. Hugh Tredennick. 1933. Loeb Classical Library. Harvard U. Press.

Carroll, L. 1889. “The Man in the Moon.” From Sylvie and Bruno Concluded. Retrieved from http://www.hoboes.com/FireBlade/Fiction/Carroll/Sylvie/Concluded/Chapter11/, July 13, 2010.

Gödel, K. 1931. “On formally undecidable propositions of Principia Mathematica and related systems I.: In The Collected Works of Kurt Gödel. 2001. Edited by S. Feferman, J. W. Dawson, S. C. Kleene, G. H. Moore, R. M. Solovay and J. van Heijenoort. New York.

Jacobs, J. 1961. The Death and Life of Great American Cities. New York.

Jacobs, J. 2000. The Nature of Economies. Random House. New York.

Koolhaas, R. 1995. “Whatever Happened to Urbanism?” In Koolhaas, R and Mau, B. S, M ,L ,XL. Rotterdam.

Le Corbusier. 1924. Towards a New Architecture. Translated by Frederick Etchells. 1931. New York.

Mehaffy, M. W. 2010“Horizons of Pattern Languages,” In Patterns, Pattern Languages and Sustainability: Symposium Proceedings, University of Oregon Foundation (May).

Newman, S and Bhat, R. 2008. “Dynamical Patterning Modules: a “Pattern Language” for Development and Evolution of Multicellular Form.” International Journal of Developmental Biology. 53:693-705 (2009)

Plato. Republic. Translation by G. M. A.Grube. 1974. Indianapolis.

Piaget, J. 1968. Structuralism. Translated and Edited by C. Maschler. 1971. London.

Whitehead, A.N. and Russell, B. 1912. Principia Mathematica. Cambridge.

Whitehead., A.N. 1929. Process and Reality. New York.

Whitehead, A.N. 1933. Adventures of Ideas. New York.

Whitehead, A.N. 1938. Modes of Thought. New York.

http://athensdialogues.chs.harvard.edu/cgi-bin/WebObjects/athensdialogues.woa/wa/dist?dis=129

Không có nhận xét nào:

Kevin Lynch- Good City Form- Hinh thuc hoan hao cua thanh pho