Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2012

Thiết kế tùy ứng (phần 10)

Hình 57: Con đường xanh


Hình 58: Đóng đường không cho giao thông cơ giới xuyên suốt, đồng thời xanh hoá con đường.

  1. Không phân ly

Thuộc tính này nhằm đạt tới sự mạch lạc, ở đây sự mạch lạc là thuộc tính nổi trội- không hiện diện trong những thành phần riêng lẻ. Salingaros giải thích rằng trong một toàn thể có cấu trúc mạch lạc sẽ không phần nào có thể bị tách rời, từ đó việc phá huỷ cấu trúc là không thể.


Sự đàn áp 15 thuộc tính trong thế kỷ 20

Cho dù có ý thức hay không ý thức thiết kế kiến trúc trong thế kỷ 20 đã vun xới trên cơ sở thiếu vắng 15 thuộc tính trên. Ngược lại sự mạch lạc lại có mặt trong tất cả các loại hình kiến trúc truyền thống, điều đó vừa logic vừa là điều không thể chối bỏ.

Nhận xét về 15 thuộc tính

15 thuộc tính cơ bản của Alexander là công cụ thực sự thiết yếu cho thiết kế, chúng dựa trên các thành tự của toán học, sinh học, vật lý, khoa học thần kinh v.v…, chúng thuộc về các nguyên lý phổ quát của tự nhiên. Những kts theo phương pháp truyền thống nhận thức một cách vô thức một số trong 15 thuộc tính, như là một phần trong các phương pháp thiết kế, tuy nhiên họ không biết một số thuộc tính khác.


LUẬT GENERATIVE VÀ ỨNG DỤNG CỦA NÓ TRONG XÂY DỰNG HÌNH THÁI ĐÔ THỊ

Quá trình generative (tạm dich: quá trình sinh trưởng?) là bước kế tục của việc tìm ra các ngôn ngữ kiểu mẫu. Trong quy hoạch và kiến trúc việc tìm kiếm một quá trình phát triển bền vững cho thành phố không chỉ dừng lại ở việc giảm CO2 gây hiệu ứng nhà kính, hoặc giảm tiêu thụ các nguồn năng lượng, mà cần phải có một giải pháp căn bản cho quá trình phát triển. Khi quan sát tự nhiên Alexander nhận thấy rằng tự nhiên luôn luôn tiến hóa theo qua trình lần lần (stepwise process), mỗi quá trình phát triển trên nền tảng của cái đã có trước đó và luôn luôn theo hướng tạo ra một toàn thể (the wholeness- như đã trình bày trong phân B), mỗi bước phát triển đều chữa lành những gì là khiềm khuyết để tạo ra một cái toàn thể lành mạnh hơn. Kiến trúc và quy hoạch đô thị cũng phải như vậy. phải phát triển lần lần và hướng theo việc từng bước hoàn thiện để tạo thành một toàn thể. Như vậy không thể tạo ra một “kế hoạch” trước cho kiến trúc và đô thị, không thể lập trước một “plan” cho chúng; cũng như tự nhiên không có trước một plan cho một chiếc lá, một ngọn núi, nhưng tự nhiên đã tạo ra những chiếc lá khác nhau, những ngọn núi, những con sóng khác nhau, chúng đều gần gũi nhau về hình thức (có cùng một pattern) và quan trọng nhất tất cả đều rất đẹp, rất bền vững. Bí mật của tự nhiên là sử dụng một số quy luật (nhiều khi rất đơn giản), khiến tự nhiên phát triển theo quy luật đơn giản đó nhưng lại tạo ra một thế giới vô cùng phong phú (chẳng hạn trình tự di truyền của bốn phân tử tạo nên hệ gene đã phối hợp với nhau một cách về bản chất là đơn giản (gồm có phối hợp, phân chia, gập lại, nhập vào…) để tạo nên thế giới sinh vật. Phần lớn độ phức tạp của cơ thể sống xuất hiện trong quá trình phân biệt lần lần- stepwise differentiation- các mô. Khi nhìn vào các đô thị truyền thống người ta cũng nhận thấy một quá trình tương tự, chẳng hạn trong các đô thị Hồi giáo truyền thống, một số quy luật đơn giản đã tạo nên một đô thị hài hòa, đẹp nhưng cũng rất phức tạp- đó là nhờ quá trình generative biến mối cái toàn thể hiện tại (existing whole) thành một cái toàn thể mới (the new whole). Từ đó Chris cho rằng cần phải có một quá trình phát triển thích hợp mà ông gọi là quá trình biến đổi bảo toàn cấu trúc (structure-preserving transformation) đó là quá trình biến đổi (transform) và thích ứng (adaptation) dựa trên điều kiện hiện tại nhằm tạo nên một cái toàn thể (the wholeness). Ông triển khai generative code (Luật xây dựng theo quá trình sinh trưởng ?) với những thuộc tính được nhà nghiên cứu đô thị Michael Mehaffy trình bày như sau:
1- Luật xác định quá trình phát triển lần lần, quá trình generative

2- Luật quy định rằng trong quá trình này, hành động của con người sẽ theo các quy luật, phối hợp với các đánh giá dựa trên cảm xúc (cảm xúc cũng là cái đo lường được và là dữ kiện đáng tin), trong việc thích ứng với cái đã có trước.
3- Tại mỗi bước luật dựa trên các điều kiện-đã-trở-thành-hiện-tồn lúc đó như một tổng thể

4- Tại mỗi bước nó xác định phần yếu nhất của cấu trúc và hành động để cải thiện và tăng cường cấu trúc

5- Tại mỗi bước nó có thể áp dụng các kiểu mẫu và các giải pháp đã được luật hóa trước đó và thay đổi chúng theo điều kiện mới.

6- Tại mỗi bước nó phân biệt không gian theo một sơ đồ gọi là các “trung tâm”

7- Các trung tâm được phân biệt thông qua 15 quá trình biến đổi duy trì cấu trúc (đã trình bày trong phần B).

8- Cở sở hạ tầng theo sau. Giống như quá trình biến đổi hình thức của cơ thể sống (morphogenesis), các mô được hình thành trước, sau đó là các mạch máu. Các kiểu mẫu nhân văn (human pattern) và không gian nhân văn phải đi trước sau đó mới là đường xá, mạng lưới đường ống thoát nước, và những thứ tương tự theo sau- không phải ngược lại

9- Sự biểu hiện thị giác theo sau. Các kiểu mẫu và không gian nhân văn đi trước, các công trình biểu hiện thị giác và các công trình tạo điểm nhấn theo sau- không phải ngược lại. Nếu không chúng ta chỉ đơn giản buộc mọi người sống trong các khối điêu khắc không liên hệ

10- Vào cuối mỗi chu kỳ, kết quả được đánh giá và chu kỳ được lặp lại


Cụ thể luật được vận dụng như thế nào? Alexander trình bày từng bước đi cụ thể từ việc kiến tạo tầm nhìn (vision), hiểu biết các điều kiện hiện tại cho đến từng giai đoạn thực hiện generative code, và từng bước nhỏ mà ông gọi là unfolding (quá trình mở ra, quá trình khai lộ) để đi đến việc tạo ra từng kiểu mẫu (có thể là các kiểu mẫu ngoài 253 kiểu mẫu mà ông trình bày trong A Pattern Language). Các bước mở ra (unfolding) này có thể hình dung một cách dễ hiểu như quá trình gập mảnh giấy của nghệ thuật xếp giấy Origami của người Nhật, chỉ với một vài thao tác gập đơn gian người ta có thể tạo ra những con vật khác nhau. Mà nếu ta dùng phép mô tình trạng của đối tượng thì lại cực kỳ phức tạp. Các bước mở ra có thể đơn giản nhưng kết quả tạo ra thật sâu sắc tựa như công thức nấu món ăn, hoặc quá trình chữa bệnh của bác sĩ vậy- đó là luôn luôn dựa vào hoàn cảnh hiện tại để chữa lành, để làm tốt hơn.
Generative code đã được triển khai tại nhiều nước trên thế giới tại Mỹ, Nhật v.v…(bạn đọc có thể xem thêm những hình ảnh các công trình do chính Christopher Alexander thực hiện tại trang web www.livingneighborhoods.org).

Vậy tóm lại luật generative là việc:

  • Dùng những quy định cho biết phải xd như thế nào.
  • Các quy định này xác đinh quá trình, chứ không phải hình thức cuối cùng
  • Luật generative khác biệt với luật tĩnh (luật dựa theo hình thức – form-based code) cả xấu lẫn tốt đang được dùng tại Mỹ. Ở đây luật dựa theo hình thức (form-based codes) không xác đinh trình tự của sự chuyển biến hình thức. Còn luật phần khu quy hoạch (zoning) xác định hình thức cuối cùng một cách trực tiếp, nhưng không phải là sự tiến hoá mang tính tính tuỳ ứng hình thức
  • Luật generative bắt đầu bằng cảm nhận trực giác cấu trúc cần xây dựng, rồi thực hiện theo trình tự từng bước để tạo ra các trường trung tâm (theo ý của Alexander)
  • Luật kết hợp khu đất với cấu trúc xây dựng để tạo nên sự sống, phản ảnh tính tuỳ ứng
Quá trình phát triển generative của quảng trường Saint Mark- Venice

Hình59 và 60 : Quá trình hình thành và phát triển quảng trường Sain Mark- Venice


Quá trình hình thành và phát triển quảng trường Saint Mark Venice theo đúng các nguyên tắc của quá trình generative.

Ngày nay ngay cả những luật “tốt” tối thiểu cũng tạo nên khác biệt đáng kể. Chẳng hạn David Sucher đề ra ba quy tắc cho cơ cấu đô thị xây dựng mật độ cao. Các quy tắc này đã giải quyết nhiều vấn đề chỉ sau một thời gian ngắn. Sau đó chúng ta có thể tiến hành với những đề xuất tái cấu trúc bởi CN Đô thị Mới (sẽ trình bày trong phần cuối). Ba quy luật của David Sucher cho các khu vực trung tâm đô thị:

  • Xây dựng sát chỉ giới xây dựng
  • Tạo cho mặt đứng có khả năng thẩm thấu
  • Ngăn cấm việc đỗ xe ngay trước công trình (chấp nhận đỗ xe dưới lòng đường)

Các quy luật này được trình bày trong “City Comforts”, Seattle, Washington, 2003

Các luật tốt tao nên một cơ cấu đô thị sống động. Chẳng hạn các luật generative khi phối hợp với các kiểu mẫu từ APL sẽ tạo nên một cơ cấu đô thị sống động. Ví dụ kiểu mẫu 167 có tên là “Ban-công sâu 6 foot” (2 m) sẽ cải thiện cuộc sống của hàng trăm triệu người khắp thế giới. APL đề xuất cần phải tạo ban công sâu ít nhất 6 ft (1,8m). Nếu có thể tạo khoảng lùi it nhất một phần vào trong nhà, sử dụng các thành phần cấu tạo để bao bọc ban công một phần.

  1. LUẬT THÔNG MINH CỦA CÔNG TY DPZ

Nền chính trị Mỹ được đặc trưng bởi sự phân quyền mạnh mẽ về các địa phương. Một trong những biểu hiện của sự phân quyền đó là quyền tự quyết trong công tác quy hoạch (QH) dành cho các thành phố, thị trấn. Chính vì vậy chúng ta sẽ không lấy làm lạ khi được biết rằng ở Mỹ mỗi vùng, miền, mỗi địa phương có thể có nhứng loại QH khác nhau. Tuy vậy về cơ bản nền QH Mỹ cũng có những nét chung. Đặc trưng lớn nhất của hệ thống QH Mỹ là sự phong phú, đa tầng bậc. Cũng giống như mọi nơi trên thế giới QH không gian và sử dụng đất là một thành phần quan trọng của hệ thống. Ngòai ra nền quy hoạch Mỹ còn bao gồm QH xã hội, QH phát triển kinh tế địa phương, bảo vệ môi trường, QH giao thông v.v…Trong QH không gian và sử dụng đất người Mỹ sử dụng hai loại QH sau: Quy hoạch tổng thể (comprehensive plan) và Luật phân vùng quy hoạch (zoning- LPVQH).

Trong khi quy hoạch tổng thể càng ngày càng mang tính chất chính sách-định hướng phát triển không gian cho một giai đọan nào đó của tương lại thì LPVQH lại mang tính pháp lý, bắt buộc mọi hoạt động sử dụng đất phải tuân theo nó ngay trong hiện tại. Như vậy quyền lực đặc biệt của QH nằm trong LPVQH. Bởi vì LPVQH là luật, nó là cái bắt buộc phải tuân thủ. Trong bài này chúng tôi không có ý định kể lại tòan bộ sự phát triển cũng như đặc điểm của QH Mỹ. Mục đích chủ yếu vẫn là cho bạn đọc những hiểu biết khái quát nhất về nền QH Mỹ nhằm nêu lên giá trị của những cố gắng gần đây trong việc hoàn thiện hệ thống luật QH tại các địa phương Mỹ. Luật QH thông minh (Smart Code) là một trong những cố gắng đó.

Luật phân vùng QH (zonning) Mỹ nở rộ tại hầu hết các tiểu bang từ sau khi bộ Thương mại Mỹ thông qua Đạo luật phân vùng và quy hoạch đô thị vào những năm 1922 và 1928. Luật phân vùng này đã làm được việc tách rời khu dân cư ra khỏi tất cả các hình thức sử dụng đất khác có khả năng gây ô nhiễm. Các tác nhân như tiếng ồn, khói bụi, chấn động, ô nhiễm không khí hoặc nguồn nứơc đều được ngăn chặn triệt để sao cho không ảnh hưởng đến khu dân cư.


Tuy nhiên luật phân vùng này đã đi quá xa, nó tách biệt hòan tòan các loại sử dụng đất khác nhau, dẫn tới việc phân ly các hoạt động khác nhau của xã hội. Họat động thương mại tách khỏi khu ở, họat động sản xuất công nghiệp (kể cả công nghiệp nhẹ tách biệt khỏi thương mại v.v…Đây là nguyên nhân dẫn đến sự hình thành nên những khu đô thị buồn tẻ và kém sức sống. Trong các thành phố nhỏ và các khu vực ngọai vi người dân phải sử dụng ô tô cá nhân đi từ phân vùng này tới phân vùng kia do mạng lưới giao thông công công không phát triển. Thay vì đó nếu có thể để những khu vực dân cư không quá tách biệt hoặc quá xa các khu vực sử dụng đất khác, hoặc cho phép hình thành những khu vực sử dụng đất hỗn hợp thì việc sử dụng ô tô có thể được giảm bớt. Nhờ đó có thể tránh được nhiều hậu quả xấu như ô nhiễm không khí, ùn tắc giao thông v.v…


Bắt nguồn từ sự không thỏa mãn với luật phân vùng quy hoạch, trong những năm gần đây ở Mỹ đang nổi lên nhiều trào lưu mong muốn cải cách các bộ luật quy hoạch (do các chính quyền địa phương sọan thảo) theo hướng phát triển bền vững và bảo tồn cảnh quan tự nhiên và giảm bớt sự biệt lập trong sử dụng đất. “Luật Thông Minh” (Smartcode) do Andrés Duany đề xuất là một trong những cố gắng đó.


Khái niệm trung tâm của Andrés Duany là mặt cắt địa lý (transect). Theo Duany thì “Mặt cắt địa lý của một vùng được dùng để thể hiện một trình tự của môi trường. Đối với môi trường sống của con người, mặt cắt này dùng để xác định một tập hợp nhừng nơi cư trú khác biệt về mức độ và mật độ đô thị, một môi trường liên tục kéo dài từ nông thôn đến thành thị.” Trong bộ luật của mình Duany phân chia mặt cắt địa lý thành sáu thành phần cơ bản liên tục và gán cho chúng các ký hiệu từ T1 đến T6. T1 là vùng mang đặc điểm nông thôn nhất, còn T6 mang tính chất đô thị đậm đặc nhất.

Lần lượt các phân vùng của mặt cắt được nêu lên như sau:


-T1-VÙNG TỰ NHIÊN: đất đai gần hoặc trở về tình trạng hoang dã, bao gồm đất không thích hợp cho điều kiện định cư vì địa hình, thủy văn, hoặc cây trồng.



-T2- VÙNG NÔNG THÔN: đất để trồng trọt hoặc có dân cư thưa thớt. Gồm đất rừng, đất nông nghiệp, đồng cỏ, hoặc hoang mạc được tưới tiêu.


-T3- VÙNG NGOẠI Ô: mặc dù tương đương về mật độ so với vùng ngoại ô hiện tại, nhưng lại vượt trội về mức độ liên kết và khả năng sở hữu nhà. Nó thường kế cận các vùng đô thị T khác.




- T4- VÙNG ĐÔ THỊ: có mật độ dày đặc hơn và chủ yếu là khu ở. Ở một vài vị trí ở góc đường có các khu hỗn hợp (gồm ở và các họat động sử dụng đất khác). Vùng này có rất nhiều loại nhà khác nhau: nhà ở riêng rẽ, nhà vườn, nhà phố. Khỏang lùi và cây trồng cũng phong phú. Các đường phố xác định loại ô phố kích thước trung bình.


-T5-VÙNG TRUNG TÂM ĐÔ THỊ: vùng này bao gồm các loại nhà hỗn hợp thỏa mãn các hoạt động bán lẻ, văn phòng và nhà ở, bao gồm nhà phố và các căn hộ. Vùng này có mạng lưới đường phố và các ô phố sít nhau có vỉa hè rộng, cây trồng và các tòa nhà có mặt tiền sát đường phố.



-T6-VÙNG LÕI ĐÔ THỊ: tương đương với trung tâm thành phố. Đó là vùng có mật độ cao nhất- gồm các nhà cao tầng nhất và có nhiều loại hình sử dụng nhất. Có những thành phần độc đáo như khu vực tài chính và các tòa nhà hành chính quan trọng. Đây cũng là vùng có ít tính chất tự nhiên nhất. Cây xanh được trồng theo hàng lối hoặc không hề có cây.


Hình 64: Sơ đồ các tiểu vùng của mặt cắt địa lý từ T1 đến T6

Với việc tạo ra sáu phân vùng như trên mục đích của “Luật thông minh” là nhằm phục hồi lại các đơn vị lân bang truyền thống (traditional neighborhood). Đó là mẫu hình phát triển theo hướng gọn gẽ (compact), tránh sử dụng đất lãng phí và đặc biệt là phát triển một cách bừa bãi. Kiểu phát triển như vậy thường được gọi bằng cái tên “sprawl.”#

Hình dưới đây nêu rõ sự khác biệt giữa hai loại hình phát triển:

Hình dưới đây nêu rõ sự khác biệt giữa hai loại hình phát triển:



Hình65: So sánh giữa hai kiểu phát triển: Phát triển khu vực ngoại vi thông thường và Phát triển theo khu vực lân bang truyền thống.

Hình bên trái là các khu vực phát triển hiện tại ở các vùng ngoại ô. Hình bên phải là khu vực phát triển kiểu khu lân bang truyền thống. Giữa hai loại hình phát triển trên chúng ta thấy rõ sự khác biệt, một bên là kiểu phát triển dàn trải với mật độ thấp, lãng phí đất đai và không có trình tự. Một bên là sự phát triển với mật độ tập trung đậm đặc tại trung tâm sau đó giảm dần ra xung quanh. Luật QH thông minh khuyến khích kiểu phát triển sau. So với kiểu phát triển do Luật phân vùng quy ước (conventional zoning) quy định, Luật QH thông minh mong muốn tạo nên một mạng lưới mịn các đơn vị của đô thị (fined grain of urban fabric). Luật này cho phép đạt được sự cân bằng giữa hai thái cực phát triển: hòan tòan tách biệt các họat động xã hội khác nhau (là kiểu của Mỹ) hoặc không có sự phân khu nào giữa các khu vực- chẳng hạn trong khu ở vẫn có các đơn vị sản xuất công nghiệp, vốn là đặc trưng cho nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

Hình 66: Minh hoạ các vùng T trong bản đồ quy chế

Hinh 67: Các quy định cụ thể cho từng vùng.


Luật QH thông minh là cách trả lời cho câu hỏi: Làm thế nào để cân bằng giữa cái trật tự và sự hỗn lọan. Nó có thể góp phần tạo lập nên một môi trường đô thị văn minh nhưng không buồn tẻ, giàu sức sống nhưng vẫn tôn trọng sự tự do cá nhân, vẫn có chỗ riêng cho mỗi người. Với ưu thế của những người đi sau, nền quy hoạch Việt Nam có thể gạn lọc được những điều hay từ hệ thống quy hoạch các nước. Trong đó luật QH thông minh là cái rất đáng để học tập. Thay vì bắt chước cái cũ của người nhưng mói của ta (như zoning- LPVQH chẳng hạn) vốn đã lộ rõ nhiều khiếm khuyết, chúng ta có thể học tập những gì hay nhất từ nền QH Hoa Kỳ: Luật QH thông minh là một trong số đó.

KÊT LUẬN

Từ những phân tích trên có thể trả lời câu hỏi: Kiến trúc và thiết kế đô thị có cần sự sáng tạo hay không? Câu trả lời là có nhưng phải hiểu sáng tạo không phải là một hành động mang tính nghệ sĩ mà là quá trình tính toán tìm kiểm sự hài hoà- thiết kế tuỳ ứng. Đó là quá trình sáng tạo bởi vi nó tạo ra một cấu trúc mới, đẹp đẽ và thích ứng với các điều kiện hiện tại. Nó yêu cầu ở người thiết kế sự tinh tế, khả năng đánh giá khách quan.
Quá trình thiết kế cũng là một hoạt động mang tính khoa học bởi lẽ nó yêu cầu người thiết kế tuân thủ 15 thuộc tính của Alexander và các kiểu mẫu ngôn ngữ.
Cuối cùng để tạo được một cấu trúc đô thị tự tổ chức, tự thích ứng, chúng ta cần phải luật hoá quá trình generative.

PHỤ LỤC
Định nghĩa về cái toàn thể:
Cái toàn thể- được gọi là W, là đặc tính của không gian vật chất tồn tại tại bất cứ nơi đâu trong bất cứ phần nào của không gian/ vật chất.
R là các vùng không gian, R bao gồm các tiểu vùng Si
Tiểu vùng không gian nào tồn tại một cách gắn bó nhât, cố kết nhât, mạch lạc nhất được gọi là các trường trung tâm.
Đơn vị sự sống, mức độ sống của các tiểu vùng không gian của R được gọi là c. Giá trị của c tăng từ 0 đến 1, và mọi tiểu vùng không gian của R đều có một mức độ sự sống nào đó. Tiểu vùng nào có mức độ cố kết, gắn bó nhất có giá trị c gần với 1. Tiểu vùng có mức độ cố kết ít nhất có giá trị c gần với 0, hoặc bằng 0.
Cái toàn thể W được hiểu là một hệ thống các trường trung tâm bào gồm những tiểu vùng cố kết nhất trong R, được xếp hạng theo mức độ sự sống.
Cái toàn thể W như là hệ thống được tạo ra bởi vùng R cùng với phép đo c và tất cả các vùng thứ cấp (subregion) mà có nhiều hơn một ngưỡng nhất định nào đó và vì thế đạt được phẩm chất là các trường trung tâm. Đối với mục đích ứng dụng cái toàn thể W được tạo nên bởi sự tương tác của đặc tính hình học của vùng R và sự xếp hạng được tạo ra nhở vào các trường trung tâm của R bởi c.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Bài giảng của giáo sư Nikos Salingaros “12 Bài giảng về kiến trúc algorithm”
  2. “Về bản chất của trật tự” (The Nature of Order). T1 của Christopher Alexander
  3. “Một ngôn ngữ kiểu mẫu” (A Pattern of language)
  4. Bài giảng cho lớp cao học Thiết kế Đô thị- năm 2011 của giáo sư Michael Mehaffy
  5. Tính toàn tìm kiếm sự hài hoà (Harmony-seeking computation) monograph của Christopher Alexander


Không có nhận xét nào:

Kevin Lynch- Good City Form- Hinh thuc hoan hao cua thanh pho