Thứ Tư, 10 tháng 8, 2011

Tóm tắt THIẾT KẾ TUỲ ỨNG Hay thiết kế kiến trúc và đô thị có cần sự sáng tạo không?


Nguyễn Hồng Ngọc

Thế kỷ 20 đã chứng kiến những tiến bộ vượt bậc trong các ngành khoa học như sinh học phân tử, vật lý học, khoa học máy tính, lý thuyết quản lý v.v…nhưng kiến trúc và quy hoạch đô thị dường như lại nằm ngoài dòng chảy đó. Cả kiến trúc và quy hoạch đô thị chính thống hoặc vẫn cứ quanh quẩn với những luận đề của những năm 30 thế kỷ XX hoặc những tư tưởng triết học xa lạ của chủ nghĩa giải toả kết cấu, hoặc chủ nghĩa hậu hiện đại.

Phần một của bài thuyết trình sẽ giới thiệu 15 thuộc tính cơ bản trong thiết kế kiến trúc và đô thị do Christopher Alexander nghiên cứu và phát triển. Tác giả cũng cố gắng giới thiệu một cách ngắn gọn lý thuyết thiết kế tuỳ ứng (adaptive design) được nhà nghiên cứu toán học, vật lý và đô thị học Nikos Salingaros trình bày trong series 12 bài giảng về kiến trúc. Phần thứ hai của bài nói chuyển sẽ đề cập đến công tác thiết kế đô thị từ quan điểm cần phải luật hoá (codifying) những ý tưởng thiết kế bền vững mà những người theo Chủ nghĩa Đô thị Mới (New Urbanism) và Phương pháp Generative đang thực hành.


(Phần dưới đây là bản tóm tắt của báo cáo vê thiết kế tùy ứng mà tôi đã trình bày tại Đại học Đà Nẵng và Đại học Phan Châu Trinh (Hội An), do những khó khăn về mặt kỹ thuật tôi không thể post đầy đủ bản báo cáo trên blog này được, xin bạn đọc gửi email về địa chỉ ngocfulbright@yahoo.com để nhận bản đầy đủ)

I. Mười lăm thuộc tính cơ bản trong thiết kế kiến trúc và đô thị

Tính toàn thể Các ngành khoa học hiện đại đã chứng minh được rằng cấu trúc toàn thể của một hệ thống có tác động rất lớn đến hành vi của các thành phần. Do đó tính toàn thể rất quan trọng. Các thành phần cụ thể, mang tính cục bộ tồn tại chủ yếu trong mối quan hệ với toàn thể. Chẳng hạn cái cây sinh ra chiếc lá, chứ chiếc lá không làm nên cái cây. Hành vi cũng như tính chất của bộ phận được xác định bởi cấu trúc toàn thể bao trùm.

Trường trung tâm

Có một tờ giấy trắng, rồi chấm lên đó một dấu chấm, ta đã làm thay đổi cấu trúc thị giác của tờ giấy. Xét một cách toàn cục, một cấu trúc hoàn toàn mới đã được hình thành. Xung quanh chấm mực mới đã hình thành một trường ảnh hưởng, trường ảnh hưởng đó được gọi là trường trung tâm. Đặc điểm thường có của trường trung tâm là: Một trường trung tâm thường được bao bọc (tức là có đường biên), được kết nối, thường có độ lồi, thường đối xứng, thường phân biệt với không gian gần kề nó và toả ra bên ngoài nó.

Mười lăm thuộc tính cơ bản trong thiết kế theo phương pháp tuỳ ứng

Các thuộc tính của thiết kế kiến trúc do Christopher Alexander nghiên cứu và phát triển bắt đầu từ những năm 1970, chúng là các đặc tính hình thái thích hợp với cảm xúc của con người. Các thuộc tính này không phụ thuộc vào văn hoá, khu vực hay thời đại, thay vì đó chúng phản ảnh những gì thuộc về bản tính, bản chất (innate) của con người.

1. Các mức tỷ lệ

Cấu trúc của các trường trung tâm xảy ra trên những quy mô khác nhau. Các thành phần có kích thước lớn thường lại có số lượng ít, các thành phần có kích thước nhỏ lại có số lượng nhiều. Tỷ lệ giữa hai kích thước liên tiếp nên vào khoảng từ 2-4. Nikos Salingaros cho rằng tỷ lệ chính xác là 2.72

2. Các trường trung tâm mạnh

Một số trường trung tâm sẽ có vai trò quan trọng hơn các trung tâm khác và có thể hấp dẫn các trung tâm thứ cấp quanh nó. Các trường trung tâm nên nằm ẩn trong nhau. Có hai loại trường trung tâm: a/Trường trung tâm xác đinh là rõ ràng về mặt thị giác. b/Trường trung tâm tiềm ẩn là trường trung tâm tuy đã có một mức độ chặt chẽ trong bố cục nhưng cần phải được hỗ trợ để phát triển thêm.

3. Đường biên dày

Cần phải cấu tạo các đường biên dày để hỗ trợ các trung tâm tiềm ẩn

4. Sự lặp xen kẽ

Các trung tâm có thể hình thành từng cặp xen kẽ lặp lại.

5. Các không gian tích cực

Mỗi phần riêng lẻ của không gian có một hình dạng tích cực như là một trường trung tâm. Mỗi hình dạng là một trung tâm mạnh. Độ lồi đóng một vai trò chủ chốt trong việc xác định một đối tượng hoặc một không gian. Hình thành không gian tích cực còn là cách tạo ra quan hệ hình- nền tích cực

6. Hình dạng tốt

Hình dạng đối xứng giảm thiểu sự quá tải thông tin. “Tốt” ở đây có thể hiểu là “dễ dàng nắm bắt được”. Nhu cầu dễ dàng nắm bắt được là nhu cầu căn bản của não bộ muốn thông tin được nén để dễ xử lý.

7. Đối xứng cục bộ

Trong khi cấu hình của các trường trung tâm ở quy mô lớn có thể là rất phi đối xứng, các vùng cục bộ thường hình thành các cụm rất đối xứng.

8. Đan xen chặt và sự nhập nhằng

Sự đan xen chặt tạo nên các trường trung tâm liên kết mạnh bởi vì các hình dạng xâm nhập lẫn nhau dễ kết nối

9. Sự tương phản

Đó là sự thiết lập các đơn vị nhỏ hơn bên cạnh các đơn vị lớn hơn. Là việc phân biệt các đơn vị liền kề. Là việc tạo nên đối xứng hình nền.

10. Sự chuyển dần

Các vùng kề cận thể hiện một sự biến đổi dần dần giữa chúng với nhau.

11. Độ thô

Có vẻ như là sự không chính xác của phép lặp, nhưng thể hiện một phẩm chất rất quan trọng của kiến trúc: sự thoải mái, sự ung dung.

12. Tiếng vọng

Có hai loại tiếng vọng, một thể hiện trong phép đối xứng tịnh tiến- ta thấy hình thức tương tự ở cùng một quy mô, nhưng cách nhau một quãng. Loại thứ hai được thể hiện trong đối xứng theo quy mô- các hình thức tương tự tồn tại ở các quy mô khác nhau.

13. Khoảng trống

Trong trường trung tầm “tiềm ẩn”, một đường biên phức tạp tập trung vào khoảng mở nằm giữa- khoảng trống

14. Mộc mạc và tự tại

Mộc mạc và tự tại là sự cân bằng đạt được bằng sự chặt chẽ trong đó các phần đều hỗ trợ nhau, không có gì là thừa hoặc làm mất tập trung. Các trường trung tâm phức tạp nhưng lại rất gắn bó.

15. Không phân ly

Mỗi vùng được kết nối tới các vùng khác bao gồm cả người quan sát và thế giới của họ, và cuối cùng tới cả vũ trụ.

Với 15 thuộc tính này người thiết kế đã có một công cụ rất mạnh dùng để tạo ra những hình thức sống động, những cấu trúc toàn thể cho kiến trúc và đô thị.

II. Luật hoá thiết kế đô thị thông qua Luật generative và Luật đô thị Thông minh

Luật generative (phát sinh)

Luật dựa trên một số lượng hạn chế các quy định (hoặc các điều luật), dựa vào các quy định này cấu trúc hình thái của đô thị sẽ phát triển theo hướng: a/ Phát triển lần lần. b/Phát triển bằng cách tôn trọng điều kiện hiện tại của địa điểm. c/ Trong mối bước phát triển cố gắng nâng cao tính toàn thể của toàn bộ cấu trúc đô thị thông qua việc vận dung 15 thuộc tính của Alexander và kiểu mẫu ngôn ngữ.

Luật generative chú trọng vào quá trình tiến hoá của đô thị chứ không phải vào hình thức cuối cùng của nó.

Luật đô thị Thông minh

Khác với luật generative luật đô thị thông minh quy định cụ thể hình thức sau này của đô thị thông qua một loạt các thông số với thể tích bên ngoài của công trinh (building envelope) như chiều cao, khoảng lùi, màu sắc, vật liệu xây dựng, các kiểu bề mặt, phong cách kiến trúc. Bằng cách dùng luật thông minh những cải tiến trong quy hoạch đô thị có thể được thực hiện trên cái nền pháp lý của Luật phân vùng quy hoạch (zoning).

Như vậy luật quy hoạch thông minh xác định hình thức cuối cùng của đô thị hoặc khu vực đô thị.

Bản sắc và tính dân tộc trong kiến trúc và thiết kế đô thị

Bằng việc sử dụng các ngôn ngữ kiểu mẫu và 15 thuộc tính của Alexander, chúng ta có thể tạo dựng được một hình thức kiến trúc găn bó với nơi chốn, phù hợp với tâm hồn người Việt. Chính loại kiến trúc và không gian đô thị đó là kiến trúc và không gian đô thị có bản sắc.

1 nhận xét:

nguyen honghung nói...

Kính anh Hông Ngọc.

Tôi là giáo viên day môn " Nguyên lí thị giác".Được biet anh qua thư anh Ngô Đồng Toản gửi cho tôi 15 yếu tố thiết kế Tùy ứng". Vì thế nên đọc những điều anh viết tôi rất kính trọng, và nghĩ tới phần chìm của tảng băng văn hóa nghề nghiệp nơi anh là khổng lồ. Tôi Rất mong có dịp trực tiếp gặp anh.
KÍnh
Nguyenx Hồng Hưng Email của tôi
< honghungng@gmail.com>

Kevin Lynch- Good City Form- Hinh thuc hoan hao cua thanh pho