Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2011

CÂU CHUYỆN MỘT CON ĐƯỜNG

Con đường bắt đầu nơi tại nơi giao nhau với đường sắt Bắc Nam

Nguyễn Hồng Ngọc

Đến giờ chỉ cần nhắm mắt lại tôi vẫn có thể hình dung con đường dẫn đến biển. Tôi có thể thấy ánh chiều khắc hình bóng của xóm làng lên nền trời, Tôi có thể thấy cái nóng bỏng của cát dưới đôi chân trần của mình thuở lên mười. Đó là con đường của ký ức, là con đường mà lũ trẻ con chúng tôi phải đi hàng giờ để ra đến biển. Con đường đó sống động và luôn luôn tràn ngập thanh âm cùng hình ảnh hệt như những kỷ niệm của Marcel Proust.

Con đường của tuổi thơ tôi bắt đầu nơi giao nhau với đường sắt Bắc Nam. Ở nơi đó những chứng tích của cuộc chiến tranh với người Mỹ đánh dấu nơi mở đầu của con đường, một cái xác “thiết vận xa” M113, rồi sau này được bổ sung thềm bằng thân hình tàn tạ của một trực thăng HU 1A Huey từ sân bay Chu Lai. Chúng đã là những món đồ chơi hết sức thú vị cho bọn trẻ chúng tôi. Con đường tiếp tục với một dốc nhỏ dẫn tới một xóm khoảng vài mươi nóc nhà quay mặt về phía đồng lúa tuyệt đẹp, lối đi qua xóm này thường nhão nhoét đầy bùn sau những cơn mưa, luôn luôn có những bài phân bò, thỉnh thoảng chúng tôi dẫm lên nhưng mũi gai tre khiến đứa nào đứa nấy kêu oai oái. Khi đi hết xóm là rặng tre đánh dấu nơi bắt đầu của cánh đồng.

Ra đến giữa cánh đồng tầm nhìn của chúng tôi trở được mở rộng hơn, bên trái là ngọn Hải Vân hùng vĩ, bên phải là bức tượng ông Phật màu trắng thật lớn. Rồi chúng tôi đi ngang qua một bãi tha ma nhỏ trước khi đi đến đồn Biên phòng. Tôi vẫn còn nhở gương mặt của những người dân chài Trung Quốc bị bộ đội Biên phòng bắt giữ vào khoảng thời gian sau chiến tranh Biên giới không lâu. Trông họ không giống như những tù nhân, họ ngồi trên tấm phản gỗ và nói chuyện với một anh lính Biên phòng. Trước khi tầm mắt của chúng tôi gặp biển chúng tôi phải vượt qua một ngôi làng nhỏ đầy những âm thành và mùi vị của một làng đánh cá ven biển miền Trung- tiếng chó sủa, những ngọn khói uốn lượn, phảng phất trong không khi mùi tanh của cá. Ngôi làng nằm lẩn trong rặng dương nhìn về hướng Đông tới một cánh đồng tí hon rộng khoảng hơn trăm mét. Rõ ràng người nông dân đã phải dành dật từng tấc đấc với ông trời để có được cánh đồng này. Sau một cái dốc nhỏ nữa, mặt biển mở cánh tay hào phóng đón chúng tôi. Không gì có thể so sánh với màu xanh của biển!

Một điều tôi có thể khá chắc chắn rằng màu xanh của biển không thay đổi gì từ dạo ấy, còn lại tất cả đều đã thay đổi. Giờ đây tôi không cần quá mười phút để vượt qua khoảng cách từ đường sắt để ra đến biển. Những ngôi nhà mới mọc lên san sát dọc theo con đường mới mở. Các nhà quy hoạch của tôi đã chia noi đó thành những vệt đất nhỏ in hệt nhau. Tất cả các mảnh đất đều cũng một dạng: từ bốn đến năm mét bề rộng với khoảng mười lăm đến hai mười mét bề sâu. Mọi nhà đều khá giống nhau, người nghèo và người có ít tiền thì xây nhà một tầng, có khi hai tầng. Người giàu mua hai có khi ba lô đất liền kề để làm chỗ cho xe hơi, bắt chước những gì mà họ thấy trên TV.

Không gian làng xóm xưa được thay thế bằng nhưng lô đất đều chằn chặn thế này

Bởi lẽ không còn lối mòn ra biển, nên cũng không còn đồng lúa xanh và không còn nữa rặng dương rì rào trong gió. Quá trình mở rộng thành phố đã xoá đi lối mòn của chúng tôi. Các nhà kiến trúc và quy hoạch đô thị của chúng ta đã làm việc đó. Đối với nhà kiến trúc theo chủ nghĩa Hiện đại thế giới là một không gian trống một thứ tabula rasa[i] nơi họ có thể thả xuống những con đường và ngôi nhà mà không cần quan tâm tới đặc điểm của nơi chốn hay mối quan hệ giữa ngôi nhà với môi trường xung quanh.

Ta có thể lần về ảnh hưởng của những lãnh tụ của chủ nghĩa Hiện đại trong kiến trúc đối với lối quy hoạch hiện nay như Le Corbusier với đồ án “Plan Voisin” trong đó ông ta đề xuất san bằng phần lớn Paris hoa lệ để thay thế bằng hàng dãy các toà nhà cao sáu mươi tầng có mặt bằng hình chữ thập. May mắn là người Paris đã không nghe ông ta. Còn ở đây, nhà quy hoạch của chúng ta đã phá huỷ cảnh quan nhiều lớp, nhiều tầm nhìn trong một không gian thấm đẫm ý nghĩa. Họ đã lấy đi những tầm nhìn đẹp dọc theo đường mòn ra biển, họ cũng biến không gian đầm ầm của ruộng đồng và làng xóm thành một khối doanh trại những nhà phố. Những ngôi nhà, mảnh vườn của người nông dân và cánh đồng lúa được tạo nên qua hàng thế hệ được thay thế bởi một hành đông quy hoạch đơn nhất, rồi lại được quyết định xây dựng bằng một hành động đơn nhất khác. Bất kỳ một cấu trúc tinh tế nào cũng đều trở thành tối thiểu trên bản vẽ của kiến trúc sư. Quá trình hãm hiếp nơi chốn không gì khác hơn là quá trình thụt lùi của môi trường nhân văn, biến nơi chốn thành không gian. Hay theo cách nói của nhà nghiên cứu kiến trúc Noberg-Schulz đó là quá trình đánh mất bản sắc. Bởi lẽ nơi chốn đồng nghĩa với bản sắc về mặt nhận thức và trải nghiệm (1983).

Từ bản sắc của nơi chốn, Norberg-Schulz đề xuất sử dụng khái niệm genius loci (tạm dịch là tinh thần của nới chốn). Genius loci bao gồm sự định hướng và khả năng nhận dạng vốn là cách mà con người sở hữu một “nơi chốn an bình hiện sinh” thông qua hành động ở. Nhờ có hành động hiện sinh về việc “ở”, một người được cảm thấy an toàn trong việc tồn- tại-trong-thế-giới (being-in-the-world[ii]). Ông cũng phân biệt rõ rằng rằng nơi chốn hay quá trình tạo thành bản sắc chính là quá trình trở thành “thân thuộc” (friend) với môi trường (21). Khái niệm về sự định hướng của Noberg-Schulz sau này được Kevin Lynch phát triển trong “Hình ảnh của Đô thị”, Lynch giải mã cấu trúc không gian cơ bản gồm có “nút” như trương hợp rặng tre của chúng tôi, hoặc đồn Biên phòng với những kỷ niệm về các lão ngư Trung Quốc, “con đường” giống như lối mòn dẫn chúng tôi ra biển, rồi “khu vực” giống như cánh đồng lúa (1960). Những khái niệm này cụ thể hơn khái niệm genius loci của Norberg-Schulz.

Dựa trên một cách tiếp cận mang tính hiện tượng, nhưng giải quyết vấn đề từ một góc độ khác, Christopher Alexander và các đồng sự đã giới thiệu một ngôn ngữ mới cho kiến trúc thông qua một bộ sưu tậm gồm 253 kiểu mẫu- được chắt lọc từ các nền văn mình xây dựng trên khắp thế giới. Mỗi kiểu mẫu là một hoàn cảnh mang đặc tính không gian và xã hội trong đó con người đặt được cảm giác sâu sắc với môi trường tự nhiên và nhân tạo xung quanh. Hầu hết các kiểu mẫu đều phản ảnh một cách bản chất cách mà con người tương tác hàng ngày với môi trường hình thể. Chẳng hạn trong kiểu mẫu số 105, Không gian ngoài trời tích cực các tác giả đã phủ nhận ý niệm rằng không gian ngoài nhà là phần thừa còn lại của công trình, rồi họ đi đến đề nghị rằng không gian ngoài nhà với mức độ đóng thích hợp như hàng rào bằng cây bụi và lối đi dưới dàn cây sẽ tạo nên không gian tích cực. Những loại không gian như vây đã từng có mặt dọc theo còn đường mòn ra biển của tôi, giờ đây bị quét sạch ra khỏi chốn cũ bởi những khu nhà mới.

Trong khi Noberg-Schulz trình bày tính phong phú và tràn ngập ngữ nghĩa của nơi chốn thông qua genius loci. Alexander tiến xa hơn một bước với bộ bốn cuốn sách đồ sộ “Về bản chất của Trật tự” trong đó ông nhấn mạnh cách tiếp cận một cách toàn diện (holistic) tới khái niệm tính toàn thể (wholeness) và bản chất sống động của thể giới hình thể. Thế giới, theo quan niệm của Alexander, được tạo thành nhiều loại cấu trúc với các mức độ của sự sống khác nhau (2004). Hay nói một cách khác, khi ta mang cấu trúc không gian thành sự sống đồng nghĩa với việc ta mang trở lại không gian thành nơi chốn và trả lại ý nghĩa cho nơi chốn. Khái niệm thứ hai của tính toàn thể bao gồm những trường trung tâm mà ta cần phải bảo tồn và tăng cường mọi lúc trong suốt quá trình xây dựng (2004). Rõ ràng rằng Alexander không chỉ dừng lại với việc suy tư về không gian và nơi chốn mà ông còn đề xuất một chương tình để chữa trị cái thế giới đã bị chủ nghĩa Hiện đại tàn phá.

Tôi muốn mở rộng hơn một chút cuộc thảo luận về nơi chốn trong kiến trúc sang ngôn ngữ. Trong tiếng Việt, khái niệm nơi chốn có ba cách diễn đạt. Hoặc là nơi, chốn, hoặc là chỗ (Từ điển Việt-Anh, 1996). Khái niệm đầu tiên về nơi có nghiã là một vị trí cụ thể và trung tính về mặt ý nghĩa. Ví dụ trong Hộ chiếu của tôi có ghi: nơi cấp (place of issue), nó thường thiếu đi cảm xúc kèm theo. Tình hình tương tự với chỗ. Nhưng với chốn chúng ta có thể thấy sự phóng chiếu của cảm xúc, biểu hiện độ thân mật hoặc suồng sã. Có lẽ không lạ gì khi chốn thường được dùng trong thơ ca và văn học, nhưng khi nó được sử dụng trong ngôn ngữ thường ngày, nó mang ý nghĩa cảm xúc rất mạnh. Vì dụ người mẹ hỏi đứa con: Mày ở chốn nào thế?- thể hiện sự bực bội cao độ về việc đứa con của bà không có mặt ở nhà đêm qua. Một ví dụ khác chốn mang ý nghĩa luyến lưu trong “Một cõi đi về” nổi tiếng của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn “chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà”.

Từ một nên văn hoá khác, bên bờ kia của đại dương người Cibecue thuộc bộ lạc Apache lại gắn nơi chốn với thái độ hiền triết của họ. Trong ngôn ngữ của họ các khái niệm: sự tĩnh lặng của trí (smoothness of mind), sự bao dung của tâm (resilience of mind), và sự tự chủ của trí (steadiness of mind) vốn là đức tính cao quy nhất của một người trưởng thành theo quan niệm của họ, tất cả đều có một tiền tố là nơi chốn. Nơi chốn là nền tảng cho nhận thức (trong trường hợp của bộ lạc Apache) và cảm xúc (trong trường hợp của tiếng Việt) (Basso, 1996 và Từ điển, 1996). Liệu ta có thể nói rằng những ngôn ngữ như vậy bảo tồn tinh thần của nơi chốn? Nên chăng chúng ta đào sâu vào những giá trị này để tìm thấy bài học về phát triển bền vững cho thế giới của chúng ta?

Để kết thúc tôi muốn nhấn mạnh rằng cách tiếp cận hiện tượng luận là quan trọng để nhận thức và tôn trọng nơi chốn. Các kiến trúc sư và nhà quy hoạch theo chủ nghĩa Hiện đại đã tạo nên một thứ cảnh quan trần trụi và đã gột sạch tính cách của nơi chốn. Với việc hiểu biết về genius loci như là sự định hướng và bản sắc của nơi chốn, cùng với khái niệm về tính toàn thể và cấu trúc sống động của Alexander, rồi những hạt ngọc tiềm ẩn trong ngôn ngữ. Chúng ta sẽ nhận thức rõ hơn về nơi chúng ta đang sống.

Tài liệu tham khảo:

1) Alexander, C et al. 1977. A Pattern of Language: Town-Building-Contruction. New York. Oxford University Press.

2) Alexander, C. 2004. The Nature of Order: An Essy on the Art of Building and The Nature of the Universe. Berkeley, CA: The Center for Environmental Structure.

3) Basso, K. 1996. Wisdom sits in place. In: Feld, S. & Basso. (ed) Senses of Place. Santa Fe, NM: School of American Research Press.

4) Lynch, K. 1960. The Image of the City. Boston MIT Press.

5) Norberg-Schulz, C. 1983. Genius Loci: Towards a Phenomenology of Architecture. Rizzoli: New York.

6) Vietnamese- English Dictionary. Volume I, II. 1996. US. Department of Commerce. Clearinghouse for Federal Scientific and Technnical Information. . Washington, D.C.



[i] Tabula rasa: một bề mặt chưa có dấu vết gì, trống trơn.

[ii] Being-in-the-world: ở đây Noberg-Schulz đã mượn ý của Martin Heideger khi bàn về khai niệm ở trong hệ thống triết học hiện tượng luận.

Không có nhận xét nào:

Kevin Lynch- Good City Form- Hinh thuc hoan hao cua thanh pho