Thứ Năm, 13 tháng 5, 2010

Về Alexander Christopher và generative code


Nguyễn Hồng Ngọc

Đôi nét về Alexander Chris: Ông sinh ở Vienna Áo, nhưng lớn lên ở Anh, được nhận học bổng vào học Vật lý và Hóa học tại đại học Cambridge, trong thời gian học đại học ông cũng nghiên cứu toán. Tốt nghiệp cử nhân ngành kiến trúc và Thạc sĩ Toán tại đại học Cambridge. Sau đó ông sang Havard nghiên cứu về lĩnh vực nhận thức, là người đầu tiên nhận bằng Tiến sĩ Kiến trúc tại Đại học Harvard. Huy chương Vàng đầu tiên của Hội Kiến trúc sư Hoa Kỳ trong lĩnh vực nghiên cứu. Đã đưa và triển khai khái niệm Pattern Language (kiểu mẫu ngôn ngữ) trong cả hai lĩnh vực kiến trúc và tin học. Kiểu mẫu ngôn ngữ này đã được phát triển thành ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng trong tin học. Thời gian sau này ông nổi tiếng với generative process (quá trình sinh trưởng) trong quá trình xây dựng thành phố, công trình kiến trúc

Hai công trình lớn của ông có ảnh hưởng trong kiến trúc và đô thị là: A Pattern Language (Một kiểu mẫu ngôn ngữ) và The Nature of Order (Bản chất của trật tự)

- A Pattern Language:

Ông quan sát tất cả các truyền thống xây dựng trên thế giới và phát hiện ra những dạng tổ chức không gian trong kiến trúc và đô thị có mối liên hệ mật thiết với nhận thức, cũng như cảm giác của con người. Ông gọi mỗi kiểu tổ chức không gian đó là một Pattern (kiểu mẫu). Trong các tổ chức không gian đó con người cảm thấy thoải mái hơn, không gian trở nên thân thuộc hơn. Trong 253 pattern mà ông phát triển ông đã đề cập đến cả tổ chức không gian đô thị và không gian kiến trúc. Không chỉ thế, các pattern này có thể được tổ chức với nhau tùy theo người sử dụng (như một dạng thư viện để có thể phối hợp từng pattern lại). Những người sử dụng có thể không phải là kiến trúc sư hoặc người chuyên về xây dựng nhưng họ vẫn có thể tạo dựng những không gian sống và sinh họat cho bản thân mình và cộng đồng (đây là sự bắt đầu cho ý tưởng về quá trình phát triển từ dưới lên của ông – bottom up trong kiến trúc và quy hoạch).

Thành công của A Pattern Language rất lớn, nó trở thành tác phẩm kiến trúc bán chạy nhất của mọi thời đại

- The Nature of Order: Sau A Pattern Language, Chris hầu như im lặng suốt 28 năm đề viết bộ bốn cuốn sách The Nature of Order. Có thể coi The Nature of Order như một sự bổ sung và sự nâng cấp vượt bậc của A pattern of language. Với những đóng góp của Chris trong một lĩnh vực mới của toán học là Lý thuyết về sự phức tạp (Theory of Complexity, có khi còn được viết là Chaos Theory- lý thuyết về sự hỗn độn). Chris và những người tiên phong nhận thấy rằng các vấn đề của thành phố củng như các hệ thống phức tạp khác không thể giải quyết bằng các công cụ truyền thống là: các khoa học phát triển từ khoa học của Newton vốn nghiên cứu các quan hệ hai biến, đối tượng của loại khoa học này các các đối tượng không phức tạp. Cũng không thể tiếp tục sử dụng các công cụ của khoa học nghiên cứu về những đối tượng phức tạp không có tổ chức (unorganized complexity) là khoa học thống kê vốn nghiên cứu về các đại lượng trung bình (average variables). Cần phải có một môn khoa học mới nghiên cứu về các đại lượng phức tạp có tổ chức (theory of organized complexity). Sự cần thiết này được đề cập đến từ những năm 50-60 bắt đầu trong sinh học. Đến ngày nay khoa học này đã có những thành công trong toán học, lĩnh vực nhận thức, tin học v.v…và đến lượt Chris đóng góp trong kiến trúc. Thực ra không thể nói rằng Chris vay mượn các ý tưởng từ lý thuyết về sự phức tạp (new theory of complexity) bởi vì chính ông cũng là một trong những người tiên phong có đóng góp trong môn khoa học này. Thậm chí ông còn đi xa hơn khi cho rằng thế kỷ 21 phải là thế kỷ mà kiến trúc và các môn học về môi trường xây dựng phải trở thành khoa học căn bản cho các ngành khoa học khác (như cơ học của Newton đã đặt nền móng cho toàn bộ lâu đài khoa học thế kỷ 19, 20). Lý luận của ông và một nhà toán học khác là Salingaros còn đi xa hơn khi cho rằng môi trường xây dựng (công trình, thành phố) chứa đựng những thông tin tiềm tàng cho môn khoa học mới về sự phức tạp này. Khi nghiên cứu những thông tin này các khoa học khác có thể có được những insight (những hiểu biết sâu sắc) cho khoa học của mình.

Vd: Pattern language được xây dựng trong kiến trúc và đã có những phát triển quan trọng trong lĩnh vực tin học.

Sở dĩ phải giới thiệu hơi dài như trên vì tôi muốn nhấn mạnh đến vai trò của Chris trong việc tạo dựng một nền khoa học mới, cũng như cách ông nhận thức về kiến trúc với cách tiếp cận hoàn toàn khoa học.

The Nature of Order nói về kiến trúc nhưng không chỉ có thế, từ kiển trúc Christopher trình bày luôn quan điểm vũ trụ luận của mình (cosmology), trong đó ông chứng minh rằng một cơ sở tinh thần và cảm xúc của cá nhân phải là căn bản cho mọi hành động xây dựng hoặc kiến tạo thế giới.

Về kiến trúc và đô thị: ông trình bày generative process (quá trình sinh trưởng?). Trong quy hoạch và kiến trúc việc tìm kiếm một quá trình phát triển bền vững cho thành phố không chỉ dừng lại ở việc giảm CO2 gây hiệu ứng nhà kính, hoặc giảm tiêu thụ các nguồn năng lượng, mà cần phải có một giải pháp căn bản cho quá trình phát triển. Khi quan sát tự nhiên Chris nhận thấy rằng tự nhiên luôn luôn tiến hóa theo qua trình lần lần (stepwise process), mỗi quá trình phát triển trên nền tảng của cái đã có trước đó luôn luôn theo hướng tạo ra một toàn thể (the wholeness), mỗi bước phát triển đều chữa lành những gì là khiềm khuyết để tạo ra một cái toàn thể lành mạnh hơn. Kiến trúc và quy hoạch đô thị cũng phải như vậy. phải phát triển lần lần và hướng theo việc từng bước hoàn thiện để tạo thành một toàn thể. Như vậy không thể tạo ra một “kế hoạch” trước cho kiến trúc và đô thị, không thể lập trước một “plan” cho chúng; cũng như tự nhiên không có trước một plan cho một chiếc lá, một ngọn núi, nhưng tạo ra những chiếc lá khác nhau, những ngọn núi, những con sóng khác nhau, nhưng lại gần gũi nhau về hình thức (có cùng một pattern) và quan trọng nhất tất cả đều rất đẹp, rất bền vững. Bí mật của tự nhiên là sử dụng một số quy luật (nhiều khi rất đơn giản), khiến tự nhiên phát triển theo quy luật đơn giản đó nhưng lại tạo ra một thế giới vô cùng phong phú (chẳng hạn trình tự di truyền của bốn phân tử tạo nên hệ gene đã phối hợp với nhau một cách về bản chất là đơn giản (gồm có phối hợp, phân chia, gập lại, nhập vào…) để tạo nên thế giới sinh vật. Phần lớn độ phức tạp của cơ thể sống xuất hiện trong quá trình phân biệt lần lần- stepwise differentiation- các mô. Khi nhìn vào các đô thị truyền thống người ta cũng nhận thấy một quá trình tương tự, chẳng hạn trong các đô thị Hồi giáo truyền thống, một số quy luật đơn giản đã tạo nên một đô thị hài hòa, đẹp nhưng cũng rất phức tạp- đó là nhờ quá trình generative biến mối cái toàn thể hiện tại (existing whole) thành một cái toàn thể mới (the new whole). Từ đó Chris cho rằng cần phải có một quá trình phát triển thích hợp mà ông gọi là quá trình biến đổi bảo toàn cấu trúc (structure-preserving transformation) đó là quá trình biến đổi (transform) và thích ứng (adaptation) dựa trên điều kiện hiện tại nhằm tạo nên một cái toàn thể (the wholeness). Ông triển khai generative code (Luật xây dựng theo quá trình sinh trưởng ?) với những thuộc tính căn bản sau:

1- Luật xác định quá trình phát triển lần lần, quá trình generative

2- Luật quy định rằng trong quá trình này, hành động của con người sẽ theo các quy luật, phối hợp với các đánh giá dựa trên cảm xúc (cảm xúc cũng là cái đo lường được và là dữ kiện đáng tin), trong việc thích ứng với cái đã có trước.

3- Tại mỗi bước luật dựa trên các điều kiện-đã-trở-thành-hiện-tồn lúc đó như một tổng thể

4- Tại mỗi bước nó xác định phần yếu nhất của cấu trúc và hành động để cải thiện và tăng cường cấu trúc

5- Tại mỗi bước nó có thể áp dụng các kiểu mẫu và các giải pháp đã được luật hóa trước đó và thay đổi chúng theo điều kiện mới.

6- Tại mỗi bước nó phân biệt không gian theo một sơ đồ gọi là các “trung tâm”

7- Các trung tâm được phân biệt thông qua 15 quá trình biến đổi duy trì cấu trúc.

8- Cở sở hạ tầng theo sau. Giống như quá trình biến đổi hình thức của cơ thể sống (morphogenesis), các mô được hình thành trước, sau đó là các mạch máu. Các kiểu mẫu nhân văn (human pattern) và không gian nhân văn phải đi trước sau đó mới là đường xá, mạng lưới đường ống thoát nước, và những thứ tương tự theo sau- không phải ngược lại

9- Sự biểu hiện thị giác theo sau. Các kiểu mẫu và không gian nhân văn đi trước, các [công trình] biểu hiện thị giác và các công trình tạo điểm nhấn theo sau- không phải ngược lại. Nếu không chúng ta chỉ đơn giản buộc mọi người sống trong các khối điêu khắc không liên hệ

10- Vào cuối mỗi chu kỳ, kết quả được đánh giá và chu kỳ được lặp lại

Cụ thể luật được vận dụng như thế nào? Chris đã trình bày từng bước đi cụ thể từ việc kiến tạo tầm nhìn (vision), hiểu biết các điều kiện hiện tại cho đến từng giai đoạn thực hiện generative code, và từng bước nhỏ mà ông gọi là unfolding (quá trình mở ra) để đi đến việc tạo ra từng pattern (có thể là khác với 253 pattern mà ông trình bày trong A Pattern Language). Các unfolding này có thể hình dung một cách dễ hiểu như quá trình gập mảnh giấy của nghệ thuật xếp giấy Origami của người Nhật, chỉ với một vài thao tác gập đơn gian người ta có thể tạo ra những con vật khác nhau. Các bước của unfolding có thể đơn giản nhưng kết quả tạo ra thật sâu sắc tựa như công thức nấu món ăn, hoặc quá trình chữa bệnh của bác sĩ vậy- luôn luôn dựa vào hoàn cảnh hiện tại để chữa lành, để làm tốt hơn.

Generative code đã được triển khai tại nhiều nước trên thế giới tại Mỹ, Nhật v.v…(bạn đọc có thể xem thêm những hình ảnh các công trình do chính Christopher Alexander thực hiện tại trang web www.livingneighborhoods.org).

Ở nước ta việc triển khai generative code có thể bắt đầu từ những khu vực nhỏ, để học tập lấy kinh nghiệm. Thậm chí có thể làm như một tình huống giả định cho một khu vực nào đó (cho khu học xá các trường đại học chẳng hạn) với các đối tượng tham gia là những người trong khu vực, những người có ảnh hưởng quan trọng về mặt chính sách của thành phố v.v….

Phần lớn bài này được rút ra từ những bài viết của Alexander Christopher, Nikos Salingaros, Michael Mehaffy và những người khác.

VỀ “LUẬT QUY HOẠCH THÔNG MINH” CỦA ANDRÉS DUANY

Nguyễn Hồng Ngọc

Đại học Đà Nẵng

Nền chính trị Mỹ được đặc trưng bởi sự phân quyền mạnh mẽ về các địa phương. Một trong những biểu hiện của sự phân quyền đó là quyền tự quyết trong công tác quy hoạch (QH) dành cho các thành phố, thị trấn. Chính vì vậy chúng ta sẽ không lấy làm lạ khi được biết rằng ở Mỹ mỗi vùng, miền, mỗi địa phương có thể có nhứng loại QH khác nhau. Tuy vậy về cơ bản nền QH Mỹ cũng có những nét chung. Đặc trưng lớn nhất của hệ thống QH Mỹ là sự phong phú, đa tầng bậc. Cũng giống như mọi nơi trên thế giới QH không gian và sử dụng đất là một thành phần quan trọng của hệ thống. Ngòai ra nền quy hoạch Mỹ còn bao gồm QH xã hội, QH phát triển kinh tế địa phương, bảo vệ môi trường, QH giao thông v.v…Trong QH không gian và sử dụng đất người Mỹ sử dụng hai loại QH sau: Quy hoạch tổng thể (comprehensive plan) và Luật phân vùng quy hoạch (zoning- LPVQH).

Trong khi quy hoạch tổng thể càng ngày càng mang tính chất chính sách-định hướng phát triển không gian cho một giai đọan nào đó của tương lại thì LPVQH lại mang tính pháp lý, bắt buộc mọi hoạt động sử dụng đất phải tuân theo nó ngay trong hiện tại. Như vậy quyền lực đặc biệt của QH nằm trong LPVQH. Bởi vì LPVQH là luật, nó là cái bắt buộc phải tuân thủ. Trong bài này chúng tôi không có ý định kể lại tòan bộ sự phát triển cũng như đặc điểm của QH Mỹ. Mục đích chủ yếu vẫn là cho bạn đọc những hiểu biết khái quát nhất về nền QH Mỹ nhằm nêu lên giá trị của những cố gắng gần đây trong việc hoàn thiện hệ thống luật QH tại các địa phương Mỹ. Luật QH thông minh (Smart Code) là một trong những cố gắng đó.

Luật phân vùng QH (zonning) Mỹ nở rộ tại hầu hết các tiểu bang từ sau khi bộ Thương mại Mỹ thông qua Đạo luật phân vùng và quy hoạch đô thị vào những năm 1922 và 1928. Luật phân vùng này đã làm được việc tách rời khu dân cư ra khỏi tất cả các hình thức sử dụng đất khác có khả năng gây ô nhiễm. Các tác nhân như tiếng ồn, khói bụi, chấn động, ô nhiễm không khí hoặc nguồn nứơc đều được ngăn chặn triệt để sao cho không ảnh hưởng đến khu dân cư.

Tuy nhiên luật phân vùng này đã đi quá xa, nó tách biệt hòan tòan các loại sử dụng đất khác nhau, dẫn tới việc phân ly các hoạt động khác nhau của xã hội. Họat động thương mại tách khỏi khu ở, họat động sản xuất công nghiệp (kể cả công nghiệp nhẹ tách biệt khỏi thương mại v.v…Đây là nguyên nhân dẫn đến sự hình thành nên những khu đô thị buồn tẻ và kém sức sống. Trong các thành phố nhỏ và các khu vực ngọai vi người dân phải sử dụng ô tô cá nhân đi từ phân vùng này tới phân vùng kia do mạng lưới giao thông công công không phát triển. Thay vì đó nếu có thể để những khu vực dân cư không quá tách biệt hoặc quá xa các khu vực sử dụng đất khác, hoặc cho phép hình thành những khu vực sử dụng đất hỗn hợp thì việc sử dụng ô tô có thể được giảm bớt. Nhờ đó có thể tránh được nhiều hậu quả xấu như ô nhiễm không khí, ùn tắc giao thông v.v…

Bắt nguồn từ sự không thỏa mãn với luật phân vùng quy hoạch, trong những năm gần đây ở Mỹ đang nổi lên nhiều trào lưu mong muốn cải cách các bộ luật quy hoạch (do các chính quyền địa phương sọan thảo) theo hướng phát triển bền vững và bảo tồn cảnh quan tự nhiên và giảm bớt sự biệt lập trong sử dụng đất. “Luật Thông Minh” (Smartcode) do Andrés Duany đề xuất là một trong những cố gắng đó.

Khái niệm trung tâm của Andrés Duany là mặt cắt địa lý (transect). Theo Duany thì “Mặt cắt địa lý của một vùng được dùng để thể hiện một trình tự của môi trường. Đối với môi trường sống của con người, mặt cắt này dùng để xác định một tập hợp nhừng nơi cư trú khác biệt về mức độ và mật độ đô thị, một môi trường liên tục kéo dài từ nông thôn đến thành thị.” Trong bộ luật của mình Duany phân chia mặt cắt địa lý thành sáu thành phần cơ bản liên tục và gán cho chúng các ký hiệu từ T1 đến T6. T1 là vùng mang đặc điểm nông thôn nhất, còn T6 mang tính chất đô thị đậm đặc nhất.

Lần lượt các phân vùng của mặt cắt được nêu lên như sau:

-T1-VÙNG TỰ NHIÊN: đất đai gần hoặc trở về tình trạng hoang dã, bao gồm đất không thích hợp cho điều kiện định cư vì địa hình, thủy văn, hoặc cây trồng.

-T2- VÙNG NÔNG THÔN: đất để trồng trọt hoặc có dân cư thưa thớt. Gồm đất rừng, đất nông nghiệp, đồng cỏ, hoặc hoang mạc được tưới tiêu.

-T3- VÙNG NGOẠI Ô: mặc dù tương đương về mật độ so với vùng ngoại ô hiện tại, nhưng lại vượt trội về mức độ liên kết và khả năng sở hữu nhà. Nó thường kế cận các vùng đô thị T khác.

- T4- VÙNG ĐÔ THỊ: có mật độ dày đặc hơn và chủ yếu là khu ở. Ở một vài vị trí ở góc đường có các khu hỗn hợp (gồm ở và các họat động sử dụng đất khác). Vùng này có rất nhiều loại nhà khác nhau: nhà ở riêng rẽ, nhà vườn, nhà phố. Khỏang lùi và cây trồng cũng phong phú. Các đường phố xác định loại ô phố kích thước trung bình.






-T5-VÙNG TRUNG TÂM ĐÔ THỊ: vùng này bao gồm các loại nhà hỗn hợp thỏa mãn các hoạt động bán lẻ, văn phòng và nhà ở, bao gồm nhà phố và các căn hộ. Vùng này có mạng lưới đường phố và các ô phố sít nhau có vỉa hè rộng, cây trồng và các tòa nhà có mặt tiền sát đường phố.






-T6-VÙNG LÕI ĐÔ THỊ: tương đương với trung tâm thành phố. Đó là vùng có mật độ cao nhất- gồm các nhà cao tầng nhất và có nhiều loại hình sử dụng nhất. Có những thành phần độc đáo như khu vực tài chính và các tòa nhà hành chính quan trọng. Đây cũng là vùng có ít tính chất tự nhiên nhất. Cây xanh được trồng theo hàng lối hoặc không hề có cây.

Hình 1: Sơ đồ các tiểu vùng của mặt cắt địa lý từ T1 đến T6

Với việc tạo ra sáu phân vùng như trên mục đích của “Luật thông minh” là nhằm phục hồi lại các đơn vị lân bang truyền thống (traditional neighborhood). Đó là mẫu hình phát triển theo hướng gọn gẽ (compact), tránh sử dụng đất lãng phí và đặc biệt là phát triển một cách bừa bãi. Kiểu phát triển như vậy thường được gọi bằng cái tên “sprawl.”[1]

Hình dưới đây nêu rõ sự khác biệt giữa hai loại hình phát triển:











Hình 2: So sánh giữa hai kiểu phát triển: Phát triển khu vực ngoại vi thông thường và Phát triển theo khu vực lân bang truyền thống.

Hình bên trái là các khu vực phát triển hiện tại ở các vùng ngoại ô. Hình bên phải là khu vực phát triển kiểu khu lân bang truyền thống. Giữa hai loại hình phát triển trên chúng ta thấy rõ sự khác biệt, một bên là kiểu phát triển dàn trải với mật độ thấp, lãng phí đất đai và không có trình tự. Một bên là sự phát triển với mật độ tập trung đậm đặc tại trung tâm sau đó giảm dần ra xung quanh. Luật QH thông minh khuyến khích kiểu phát triển sau. So với kiểu phát triển do Luật phân vùng quy ước (conventional zoning) quy định, Luật QH thông minh mong muốn tạo nên một mạng lưới mịn các đơn vị của đô thị (fined grain of urban fabric). Luật này cho phép đạt được sự cân bằng giữa hai thái cực phát triển: hòan tòan tách biệt các họat động xã hội khác nhau (là kiểu của Mỹ) hoặc không có sự phân khu nào giữa các khu vực- chẳng hạn trong khu ở vẫn có các đơn vị sản xuất công nghiệp, vốn là đặc trưng cho nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.













CÁC VÙNG CHUẨN CÁC VÙNG KHÁC CÁC YÊU CẦU

T6- Vùng lõi đô thị DA- Quận theo chỉ định Vùng đi bộ dài (tối thiểu 10’ đi bộ)

T5- Vùng trung tâm đô thị WY- Vùng ngoại lệ được đảm bảo Vùng đi bộ tiêu chuẩn (tối thiểu 5’ đi bộ)

T4- Vùng đô thị VE= Vùng ngọai lệ Đường xuyên suốt

Hình 3: Hình minh họa một khu vực QH mới theo Luật QH thông minh

Luật QH thông minh còn có một ưu thế quan trọng khác. Nó là một loại luật dựa trên hình ảnh (Form-based code), tức là loại luật dùng hình ảnh để giải thích thay vì chỉ dùng lời như luật phân vùng QH hiện thời và ít có hình minh họa. Luật dựa trên hình ảnh cho thấy rõ ý muốn của chính quyền địa phương. Họ muốn có công trình loại gì, chiều cao bao nhiều, mật độ xây dựng như thế nào, tất cả đều được nêu rõ và được giải thích bằng hình ảnh trong luật. (quả là đúng như một cầu ngạn ngữ tiếng Anh: một hình ảnh đáng giá bằng cả ngàn lời nói). Loại luật QH này đang rất được ưa chuộng ở Mỹ do nó cho phép nhà phát triển bất động sản (PTBĐS) biết được chính xác chính quyền địa phương mong muốn có những công trình xây dựng như thế nào, nó tiết kiệm công sức của cả nhà PTBĐS và cả nhà quy hoạch. Nhưng hơn hết luật dựa trên hình ảnh còn cho phép tạo nên không gian đúng như mong muốn thay vì chỉ đề ra một vài chỉ tiêu (chiều cao, mật độ, hoặc độ lùi) còn để mặc nhà PTBĐS muốn làm gì thì làm.

Chẳng hạn quy định của Luật QH thông minh cho vùng T3 như sau:





























































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































Bảng 1: Minh họa các yêu cầu cho tiểu vùng T3

Với tất cả các đặc tính đã nêu luật QH thông minh có thể làm được nhiều điều mà LPVQH (zoning) không thể làm được, đó là tạo lập một diện mạo đô thị như mong muốn, với hình ảnh đô thị trong tương lai chính xác như những gì mà nhà quy hoạch hình dung. Luật này cũng dễ hiểu ngay cả với dân thừong. Nhà phát triển bất động sản thì biết được chính quyền mong muốn có một công trình với hình thức như thế nào. Cuối cùng luật này còn khuyến khích sự phát triển gọn gẽ và tạo nên một đô thị có mật độ tăng dần từ ngoại vi vào trung tâm thành phố, tạo nên một môi trường đô thị giàu sức sống. Lúc đó việc tạo lập một cảm giác về nơi chốn (sense of place) sẽ dễ dàng hơn.



Hình 4: Hình ảnh minh họa các phân vùng từ T1 đến T6

Luật QH thông minh là cách trả lời cho câu hỏi: Làm thế nào để cân bằng giữa cái trật tự và sự hỗn lọan. Nó có thể góp phần tạo lập nên một môi trường đô thị văn minh nhưng không buồn tẻ, giàu sức sống nhưng vẫn tôn trọng sự tự do cá nhân, vẫn có chỗ riêng cho mỗi người. Với ưu thế của những người đi sau, nền quy hoạch Việt Nam có thể gạn lọc được những điều hay từ hệ thống quy hoạch các nước. Trong đó luật QH thông minh là cái rất đáng để học tập. Thay vì bắt chước cái cũ của người nhưng mói của ta (như zoning- LPVQH chẳng hạn) vốn đã lộ rõ nhiều khiếm khuyết, chúng ta có thể học tập những gì hay nhất từ nền QH Hoa Kỳ: Luật QH thông minh là một trong số đó.

Tất cả các hình vẽ và bảng biểu trong bài này đều được lấy từ Luật QH thông minh: một Luật QH tổng quát dựa trên hình ảnh (Smartcode: A comprehensive Form-Based Planning Ordinance) do Duany Plater-Zyberk& Công ty sọan thảo ( download từ http://www.tndtownpaper.com/images/SmartCode6.5.pdf).



[1] sprawls: vùng phát triển lộn xộn không thep quy hoạch, thiếu kiểm sóat ở ngoại vi thành phố.

Kevin Lynch- Good City Form- Hinh thuc hoan hao cua thanh pho