Thứ Năm, 13 tháng 5, 2010

VỀ “LUẬT QUY HOẠCH THÔNG MINH” CỦA ANDRÉS DUANY

Nguyễn Hồng Ngọc

Đại học Đà Nẵng

Nền chính trị Mỹ được đặc trưng bởi sự phân quyền mạnh mẽ về các địa phương. Một trong những biểu hiện của sự phân quyền đó là quyền tự quyết trong công tác quy hoạch (QH) dành cho các thành phố, thị trấn. Chính vì vậy chúng ta sẽ không lấy làm lạ khi được biết rằng ở Mỹ mỗi vùng, miền, mỗi địa phương có thể có nhứng loại QH khác nhau. Tuy vậy về cơ bản nền QH Mỹ cũng có những nét chung. Đặc trưng lớn nhất của hệ thống QH Mỹ là sự phong phú, đa tầng bậc. Cũng giống như mọi nơi trên thế giới QH không gian và sử dụng đất là một thành phần quan trọng của hệ thống. Ngòai ra nền quy hoạch Mỹ còn bao gồm QH xã hội, QH phát triển kinh tế địa phương, bảo vệ môi trường, QH giao thông v.v…Trong QH không gian và sử dụng đất người Mỹ sử dụng hai loại QH sau: Quy hoạch tổng thể (comprehensive plan) và Luật phân vùng quy hoạch (zoning- LPVQH).

Trong khi quy hoạch tổng thể càng ngày càng mang tính chất chính sách-định hướng phát triển không gian cho một giai đọan nào đó của tương lại thì LPVQH lại mang tính pháp lý, bắt buộc mọi hoạt động sử dụng đất phải tuân theo nó ngay trong hiện tại. Như vậy quyền lực đặc biệt của QH nằm trong LPVQH. Bởi vì LPVQH là luật, nó là cái bắt buộc phải tuân thủ. Trong bài này chúng tôi không có ý định kể lại tòan bộ sự phát triển cũng như đặc điểm của QH Mỹ. Mục đích chủ yếu vẫn là cho bạn đọc những hiểu biết khái quát nhất về nền QH Mỹ nhằm nêu lên giá trị của những cố gắng gần đây trong việc hoàn thiện hệ thống luật QH tại các địa phương Mỹ. Luật QH thông minh (Smart Code) là một trong những cố gắng đó.

Luật phân vùng QH (zonning) Mỹ nở rộ tại hầu hết các tiểu bang từ sau khi bộ Thương mại Mỹ thông qua Đạo luật phân vùng và quy hoạch đô thị vào những năm 1922 và 1928. Luật phân vùng này đã làm được việc tách rời khu dân cư ra khỏi tất cả các hình thức sử dụng đất khác có khả năng gây ô nhiễm. Các tác nhân như tiếng ồn, khói bụi, chấn động, ô nhiễm không khí hoặc nguồn nứơc đều được ngăn chặn triệt để sao cho không ảnh hưởng đến khu dân cư.

Tuy nhiên luật phân vùng này đã đi quá xa, nó tách biệt hòan tòan các loại sử dụng đất khác nhau, dẫn tới việc phân ly các hoạt động khác nhau của xã hội. Họat động thương mại tách khỏi khu ở, họat động sản xuất công nghiệp (kể cả công nghiệp nhẹ tách biệt khỏi thương mại v.v…Đây là nguyên nhân dẫn đến sự hình thành nên những khu đô thị buồn tẻ và kém sức sống. Trong các thành phố nhỏ và các khu vực ngọai vi người dân phải sử dụng ô tô cá nhân đi từ phân vùng này tới phân vùng kia do mạng lưới giao thông công công không phát triển. Thay vì đó nếu có thể để những khu vực dân cư không quá tách biệt hoặc quá xa các khu vực sử dụng đất khác, hoặc cho phép hình thành những khu vực sử dụng đất hỗn hợp thì việc sử dụng ô tô có thể được giảm bớt. Nhờ đó có thể tránh được nhiều hậu quả xấu như ô nhiễm không khí, ùn tắc giao thông v.v…

Bắt nguồn từ sự không thỏa mãn với luật phân vùng quy hoạch, trong những năm gần đây ở Mỹ đang nổi lên nhiều trào lưu mong muốn cải cách các bộ luật quy hoạch (do các chính quyền địa phương sọan thảo) theo hướng phát triển bền vững và bảo tồn cảnh quan tự nhiên và giảm bớt sự biệt lập trong sử dụng đất. “Luật Thông Minh” (Smartcode) do Andrés Duany đề xuất là một trong những cố gắng đó.

Khái niệm trung tâm của Andrés Duany là mặt cắt địa lý (transect). Theo Duany thì “Mặt cắt địa lý của một vùng được dùng để thể hiện một trình tự của môi trường. Đối với môi trường sống của con người, mặt cắt này dùng để xác định một tập hợp nhừng nơi cư trú khác biệt về mức độ và mật độ đô thị, một môi trường liên tục kéo dài từ nông thôn đến thành thị.” Trong bộ luật của mình Duany phân chia mặt cắt địa lý thành sáu thành phần cơ bản liên tục và gán cho chúng các ký hiệu từ T1 đến T6. T1 là vùng mang đặc điểm nông thôn nhất, còn T6 mang tính chất đô thị đậm đặc nhất.

Lần lượt các phân vùng của mặt cắt được nêu lên như sau:

-T1-VÙNG TỰ NHIÊN: đất đai gần hoặc trở về tình trạng hoang dã, bao gồm đất không thích hợp cho điều kiện định cư vì địa hình, thủy văn, hoặc cây trồng.

-T2- VÙNG NÔNG THÔN: đất để trồng trọt hoặc có dân cư thưa thớt. Gồm đất rừng, đất nông nghiệp, đồng cỏ, hoặc hoang mạc được tưới tiêu.

-T3- VÙNG NGOẠI Ô: mặc dù tương đương về mật độ so với vùng ngoại ô hiện tại, nhưng lại vượt trội về mức độ liên kết và khả năng sở hữu nhà. Nó thường kế cận các vùng đô thị T khác.

- T4- VÙNG ĐÔ THỊ: có mật độ dày đặc hơn và chủ yếu là khu ở. Ở một vài vị trí ở góc đường có các khu hỗn hợp (gồm ở và các họat động sử dụng đất khác). Vùng này có rất nhiều loại nhà khác nhau: nhà ở riêng rẽ, nhà vườn, nhà phố. Khỏang lùi và cây trồng cũng phong phú. Các đường phố xác định loại ô phố kích thước trung bình.






-T5-VÙNG TRUNG TÂM ĐÔ THỊ: vùng này bao gồm các loại nhà hỗn hợp thỏa mãn các hoạt động bán lẻ, văn phòng và nhà ở, bao gồm nhà phố và các căn hộ. Vùng này có mạng lưới đường phố và các ô phố sít nhau có vỉa hè rộng, cây trồng và các tòa nhà có mặt tiền sát đường phố.






-T6-VÙNG LÕI ĐÔ THỊ: tương đương với trung tâm thành phố. Đó là vùng có mật độ cao nhất- gồm các nhà cao tầng nhất và có nhiều loại hình sử dụng nhất. Có những thành phần độc đáo như khu vực tài chính và các tòa nhà hành chính quan trọng. Đây cũng là vùng có ít tính chất tự nhiên nhất. Cây xanh được trồng theo hàng lối hoặc không hề có cây.

Hình 1: Sơ đồ các tiểu vùng của mặt cắt địa lý từ T1 đến T6

Với việc tạo ra sáu phân vùng như trên mục đích của “Luật thông minh” là nhằm phục hồi lại các đơn vị lân bang truyền thống (traditional neighborhood). Đó là mẫu hình phát triển theo hướng gọn gẽ (compact), tránh sử dụng đất lãng phí và đặc biệt là phát triển một cách bừa bãi. Kiểu phát triển như vậy thường được gọi bằng cái tên “sprawl.”[1]

Hình dưới đây nêu rõ sự khác biệt giữa hai loại hình phát triển:











Hình 2: So sánh giữa hai kiểu phát triển: Phát triển khu vực ngoại vi thông thường và Phát triển theo khu vực lân bang truyền thống.

Hình bên trái là các khu vực phát triển hiện tại ở các vùng ngoại ô. Hình bên phải là khu vực phát triển kiểu khu lân bang truyền thống. Giữa hai loại hình phát triển trên chúng ta thấy rõ sự khác biệt, một bên là kiểu phát triển dàn trải với mật độ thấp, lãng phí đất đai và không có trình tự. Một bên là sự phát triển với mật độ tập trung đậm đặc tại trung tâm sau đó giảm dần ra xung quanh. Luật QH thông minh khuyến khích kiểu phát triển sau. So với kiểu phát triển do Luật phân vùng quy ước (conventional zoning) quy định, Luật QH thông minh mong muốn tạo nên một mạng lưới mịn các đơn vị của đô thị (fined grain of urban fabric). Luật này cho phép đạt được sự cân bằng giữa hai thái cực phát triển: hòan tòan tách biệt các họat động xã hội khác nhau (là kiểu của Mỹ) hoặc không có sự phân khu nào giữa các khu vực- chẳng hạn trong khu ở vẫn có các đơn vị sản xuất công nghiệp, vốn là đặc trưng cho nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.













CÁC VÙNG CHUẨN CÁC VÙNG KHÁC CÁC YÊU CẦU

T6- Vùng lõi đô thị DA- Quận theo chỉ định Vùng đi bộ dài (tối thiểu 10’ đi bộ)

T5- Vùng trung tâm đô thị WY- Vùng ngoại lệ được đảm bảo Vùng đi bộ tiêu chuẩn (tối thiểu 5’ đi bộ)

T4- Vùng đô thị VE= Vùng ngọai lệ Đường xuyên suốt

Hình 3: Hình minh họa một khu vực QH mới theo Luật QH thông minh

Luật QH thông minh còn có một ưu thế quan trọng khác. Nó là một loại luật dựa trên hình ảnh (Form-based code), tức là loại luật dùng hình ảnh để giải thích thay vì chỉ dùng lời như luật phân vùng QH hiện thời và ít có hình minh họa. Luật dựa trên hình ảnh cho thấy rõ ý muốn của chính quyền địa phương. Họ muốn có công trình loại gì, chiều cao bao nhiều, mật độ xây dựng như thế nào, tất cả đều được nêu rõ và được giải thích bằng hình ảnh trong luật. (quả là đúng như một cầu ngạn ngữ tiếng Anh: một hình ảnh đáng giá bằng cả ngàn lời nói). Loại luật QH này đang rất được ưa chuộng ở Mỹ do nó cho phép nhà phát triển bất động sản (PTBĐS) biết được chính xác chính quyền địa phương mong muốn có những công trình xây dựng như thế nào, nó tiết kiệm công sức của cả nhà PTBĐS và cả nhà quy hoạch. Nhưng hơn hết luật dựa trên hình ảnh còn cho phép tạo nên không gian đúng như mong muốn thay vì chỉ đề ra một vài chỉ tiêu (chiều cao, mật độ, hoặc độ lùi) còn để mặc nhà PTBĐS muốn làm gì thì làm.

Chẳng hạn quy định của Luật QH thông minh cho vùng T3 như sau:





























































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































Bảng 1: Minh họa các yêu cầu cho tiểu vùng T3

Với tất cả các đặc tính đã nêu luật QH thông minh có thể làm được nhiều điều mà LPVQH (zoning) không thể làm được, đó là tạo lập một diện mạo đô thị như mong muốn, với hình ảnh đô thị trong tương lai chính xác như những gì mà nhà quy hoạch hình dung. Luật này cũng dễ hiểu ngay cả với dân thừong. Nhà phát triển bất động sản thì biết được chính quyền mong muốn có một công trình với hình thức như thế nào. Cuối cùng luật này còn khuyến khích sự phát triển gọn gẽ và tạo nên một đô thị có mật độ tăng dần từ ngoại vi vào trung tâm thành phố, tạo nên một môi trường đô thị giàu sức sống. Lúc đó việc tạo lập một cảm giác về nơi chốn (sense of place) sẽ dễ dàng hơn.



Hình 4: Hình ảnh minh họa các phân vùng từ T1 đến T6

Luật QH thông minh là cách trả lời cho câu hỏi: Làm thế nào để cân bằng giữa cái trật tự và sự hỗn lọan. Nó có thể góp phần tạo lập nên một môi trường đô thị văn minh nhưng không buồn tẻ, giàu sức sống nhưng vẫn tôn trọng sự tự do cá nhân, vẫn có chỗ riêng cho mỗi người. Với ưu thế của những người đi sau, nền quy hoạch Việt Nam có thể gạn lọc được những điều hay từ hệ thống quy hoạch các nước. Trong đó luật QH thông minh là cái rất đáng để học tập. Thay vì bắt chước cái cũ của người nhưng mói của ta (như zoning- LPVQH chẳng hạn) vốn đã lộ rõ nhiều khiếm khuyết, chúng ta có thể học tập những gì hay nhất từ nền QH Hoa Kỳ: Luật QH thông minh là một trong số đó.

Tất cả các hình vẽ và bảng biểu trong bài này đều được lấy từ Luật QH thông minh: một Luật QH tổng quát dựa trên hình ảnh (Smartcode: A comprehensive Form-Based Planning Ordinance) do Duany Plater-Zyberk& Công ty sọan thảo ( download từ http://www.tndtownpaper.com/images/SmartCode6.5.pdf).



[1] sprawls: vùng phát triển lộn xộn không thep quy hoạch, thiếu kiểm sóat ở ngoại vi thành phố.

Không có nhận xét nào:

Kevin Lynch- Good City Form- Hinh thuc hoan hao cua thanh pho