Thứ Năm, 13 tháng 5, 2010

Về Alexander Christopher và generative code


Nguyễn Hồng Ngọc

Đôi nét về Alexander Chris: Ông sinh ở Vienna Áo, nhưng lớn lên ở Anh, được nhận học bổng vào học Vật lý và Hóa học tại đại học Cambridge, trong thời gian học đại học ông cũng nghiên cứu toán. Tốt nghiệp cử nhân ngành kiến trúc và Thạc sĩ Toán tại đại học Cambridge. Sau đó ông sang Havard nghiên cứu về lĩnh vực nhận thức, là người đầu tiên nhận bằng Tiến sĩ Kiến trúc tại Đại học Harvard. Huy chương Vàng đầu tiên của Hội Kiến trúc sư Hoa Kỳ trong lĩnh vực nghiên cứu. Đã đưa và triển khai khái niệm Pattern Language (kiểu mẫu ngôn ngữ) trong cả hai lĩnh vực kiến trúc và tin học. Kiểu mẫu ngôn ngữ này đã được phát triển thành ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng trong tin học. Thời gian sau này ông nổi tiếng với generative process (quá trình sinh trưởng) trong quá trình xây dựng thành phố, công trình kiến trúc

Hai công trình lớn của ông có ảnh hưởng trong kiến trúc và đô thị là: A Pattern Language (Một kiểu mẫu ngôn ngữ) và The Nature of Order (Bản chất của trật tự)

- A Pattern Language:

Ông quan sát tất cả các truyền thống xây dựng trên thế giới và phát hiện ra những dạng tổ chức không gian trong kiến trúc và đô thị có mối liên hệ mật thiết với nhận thức, cũng như cảm giác của con người. Ông gọi mỗi kiểu tổ chức không gian đó là một Pattern (kiểu mẫu). Trong các tổ chức không gian đó con người cảm thấy thoải mái hơn, không gian trở nên thân thuộc hơn. Trong 253 pattern mà ông phát triển ông đã đề cập đến cả tổ chức không gian đô thị và không gian kiến trúc. Không chỉ thế, các pattern này có thể được tổ chức với nhau tùy theo người sử dụng (như một dạng thư viện để có thể phối hợp từng pattern lại). Những người sử dụng có thể không phải là kiến trúc sư hoặc người chuyên về xây dựng nhưng họ vẫn có thể tạo dựng những không gian sống và sinh họat cho bản thân mình và cộng đồng (đây là sự bắt đầu cho ý tưởng về quá trình phát triển từ dưới lên của ông – bottom up trong kiến trúc và quy hoạch).

Thành công của A Pattern Language rất lớn, nó trở thành tác phẩm kiến trúc bán chạy nhất của mọi thời đại

- The Nature of Order: Sau A Pattern Language, Chris hầu như im lặng suốt 28 năm đề viết bộ bốn cuốn sách The Nature of Order. Có thể coi The Nature of Order như một sự bổ sung và sự nâng cấp vượt bậc của A pattern of language. Với những đóng góp của Chris trong một lĩnh vực mới của toán học là Lý thuyết về sự phức tạp (Theory of Complexity, có khi còn được viết là Chaos Theory- lý thuyết về sự hỗn độn). Chris và những người tiên phong nhận thấy rằng các vấn đề của thành phố củng như các hệ thống phức tạp khác không thể giải quyết bằng các công cụ truyền thống là: các khoa học phát triển từ khoa học của Newton vốn nghiên cứu các quan hệ hai biến, đối tượng của loại khoa học này các các đối tượng không phức tạp. Cũng không thể tiếp tục sử dụng các công cụ của khoa học nghiên cứu về những đối tượng phức tạp không có tổ chức (unorganized complexity) là khoa học thống kê vốn nghiên cứu về các đại lượng trung bình (average variables). Cần phải có một môn khoa học mới nghiên cứu về các đại lượng phức tạp có tổ chức (theory of organized complexity). Sự cần thiết này được đề cập đến từ những năm 50-60 bắt đầu trong sinh học. Đến ngày nay khoa học này đã có những thành công trong toán học, lĩnh vực nhận thức, tin học v.v…và đến lượt Chris đóng góp trong kiến trúc. Thực ra không thể nói rằng Chris vay mượn các ý tưởng từ lý thuyết về sự phức tạp (new theory of complexity) bởi vì chính ông cũng là một trong những người tiên phong có đóng góp trong môn khoa học này. Thậm chí ông còn đi xa hơn khi cho rằng thế kỷ 21 phải là thế kỷ mà kiến trúc và các môn học về môi trường xây dựng phải trở thành khoa học căn bản cho các ngành khoa học khác (như cơ học của Newton đã đặt nền móng cho toàn bộ lâu đài khoa học thế kỷ 19, 20). Lý luận của ông và một nhà toán học khác là Salingaros còn đi xa hơn khi cho rằng môi trường xây dựng (công trình, thành phố) chứa đựng những thông tin tiềm tàng cho môn khoa học mới về sự phức tạp này. Khi nghiên cứu những thông tin này các khoa học khác có thể có được những insight (những hiểu biết sâu sắc) cho khoa học của mình.

Vd: Pattern language được xây dựng trong kiến trúc và đã có những phát triển quan trọng trong lĩnh vực tin học.

Sở dĩ phải giới thiệu hơi dài như trên vì tôi muốn nhấn mạnh đến vai trò của Chris trong việc tạo dựng một nền khoa học mới, cũng như cách ông nhận thức về kiến trúc với cách tiếp cận hoàn toàn khoa học.

The Nature of Order nói về kiến trúc nhưng không chỉ có thế, từ kiển trúc Christopher trình bày luôn quan điểm vũ trụ luận của mình (cosmology), trong đó ông chứng minh rằng một cơ sở tinh thần và cảm xúc của cá nhân phải là căn bản cho mọi hành động xây dựng hoặc kiến tạo thế giới.

Về kiến trúc và đô thị: ông trình bày generative process (quá trình sinh trưởng?). Trong quy hoạch và kiến trúc việc tìm kiếm một quá trình phát triển bền vững cho thành phố không chỉ dừng lại ở việc giảm CO2 gây hiệu ứng nhà kính, hoặc giảm tiêu thụ các nguồn năng lượng, mà cần phải có một giải pháp căn bản cho quá trình phát triển. Khi quan sát tự nhiên Chris nhận thấy rằng tự nhiên luôn luôn tiến hóa theo qua trình lần lần (stepwise process), mỗi quá trình phát triển trên nền tảng của cái đã có trước đó luôn luôn theo hướng tạo ra một toàn thể (the wholeness), mỗi bước phát triển đều chữa lành những gì là khiềm khuyết để tạo ra một cái toàn thể lành mạnh hơn. Kiến trúc và quy hoạch đô thị cũng phải như vậy. phải phát triển lần lần và hướng theo việc từng bước hoàn thiện để tạo thành một toàn thể. Như vậy không thể tạo ra một “kế hoạch” trước cho kiến trúc và đô thị, không thể lập trước một “plan” cho chúng; cũng như tự nhiên không có trước một plan cho một chiếc lá, một ngọn núi, nhưng tạo ra những chiếc lá khác nhau, những ngọn núi, những con sóng khác nhau, nhưng lại gần gũi nhau về hình thức (có cùng một pattern) và quan trọng nhất tất cả đều rất đẹp, rất bền vững. Bí mật của tự nhiên là sử dụng một số quy luật (nhiều khi rất đơn giản), khiến tự nhiên phát triển theo quy luật đơn giản đó nhưng lại tạo ra một thế giới vô cùng phong phú (chẳng hạn trình tự di truyền của bốn phân tử tạo nên hệ gene đã phối hợp với nhau một cách về bản chất là đơn giản (gồm có phối hợp, phân chia, gập lại, nhập vào…) để tạo nên thế giới sinh vật. Phần lớn độ phức tạp của cơ thể sống xuất hiện trong quá trình phân biệt lần lần- stepwise differentiation- các mô. Khi nhìn vào các đô thị truyền thống người ta cũng nhận thấy một quá trình tương tự, chẳng hạn trong các đô thị Hồi giáo truyền thống, một số quy luật đơn giản đã tạo nên một đô thị hài hòa, đẹp nhưng cũng rất phức tạp- đó là nhờ quá trình generative biến mối cái toàn thể hiện tại (existing whole) thành một cái toàn thể mới (the new whole). Từ đó Chris cho rằng cần phải có một quá trình phát triển thích hợp mà ông gọi là quá trình biến đổi bảo toàn cấu trúc (structure-preserving transformation) đó là quá trình biến đổi (transform) và thích ứng (adaptation) dựa trên điều kiện hiện tại nhằm tạo nên một cái toàn thể (the wholeness). Ông triển khai generative code (Luật xây dựng theo quá trình sinh trưởng ?) với những thuộc tính căn bản sau:

1- Luật xác định quá trình phát triển lần lần, quá trình generative

2- Luật quy định rằng trong quá trình này, hành động của con người sẽ theo các quy luật, phối hợp với các đánh giá dựa trên cảm xúc (cảm xúc cũng là cái đo lường được và là dữ kiện đáng tin), trong việc thích ứng với cái đã có trước.

3- Tại mỗi bước luật dựa trên các điều kiện-đã-trở-thành-hiện-tồn lúc đó như một tổng thể

4- Tại mỗi bước nó xác định phần yếu nhất của cấu trúc và hành động để cải thiện và tăng cường cấu trúc

5- Tại mỗi bước nó có thể áp dụng các kiểu mẫu và các giải pháp đã được luật hóa trước đó và thay đổi chúng theo điều kiện mới.

6- Tại mỗi bước nó phân biệt không gian theo một sơ đồ gọi là các “trung tâm”

7- Các trung tâm được phân biệt thông qua 15 quá trình biến đổi duy trì cấu trúc.

8- Cở sở hạ tầng theo sau. Giống như quá trình biến đổi hình thức của cơ thể sống (morphogenesis), các mô được hình thành trước, sau đó là các mạch máu. Các kiểu mẫu nhân văn (human pattern) và không gian nhân văn phải đi trước sau đó mới là đường xá, mạng lưới đường ống thoát nước, và những thứ tương tự theo sau- không phải ngược lại

9- Sự biểu hiện thị giác theo sau. Các kiểu mẫu và không gian nhân văn đi trước, các [công trình] biểu hiện thị giác và các công trình tạo điểm nhấn theo sau- không phải ngược lại. Nếu không chúng ta chỉ đơn giản buộc mọi người sống trong các khối điêu khắc không liên hệ

10- Vào cuối mỗi chu kỳ, kết quả được đánh giá và chu kỳ được lặp lại

Cụ thể luật được vận dụng như thế nào? Chris đã trình bày từng bước đi cụ thể từ việc kiến tạo tầm nhìn (vision), hiểu biết các điều kiện hiện tại cho đến từng giai đoạn thực hiện generative code, và từng bước nhỏ mà ông gọi là unfolding (quá trình mở ra) để đi đến việc tạo ra từng pattern (có thể là khác với 253 pattern mà ông trình bày trong A Pattern Language). Các unfolding này có thể hình dung một cách dễ hiểu như quá trình gập mảnh giấy của nghệ thuật xếp giấy Origami của người Nhật, chỉ với một vài thao tác gập đơn gian người ta có thể tạo ra những con vật khác nhau. Các bước của unfolding có thể đơn giản nhưng kết quả tạo ra thật sâu sắc tựa như công thức nấu món ăn, hoặc quá trình chữa bệnh của bác sĩ vậy- luôn luôn dựa vào hoàn cảnh hiện tại để chữa lành, để làm tốt hơn.

Generative code đã được triển khai tại nhiều nước trên thế giới tại Mỹ, Nhật v.v…(bạn đọc có thể xem thêm những hình ảnh các công trình do chính Christopher Alexander thực hiện tại trang web www.livingneighborhoods.org).

Ở nước ta việc triển khai generative code có thể bắt đầu từ những khu vực nhỏ, để học tập lấy kinh nghiệm. Thậm chí có thể làm như một tình huống giả định cho một khu vực nào đó (cho khu học xá các trường đại học chẳng hạn) với các đối tượng tham gia là những người trong khu vực, những người có ảnh hưởng quan trọng về mặt chính sách của thành phố v.v….

Phần lớn bài này được rút ra từ những bài viết của Alexander Christopher, Nikos Salingaros, Michael Mehaffy và những người khác.

Không có nhận xét nào:

Kevin Lynch- Good City Form- Hinh thuc hoan hao cua thanh pho