Thứ Hai, 14 tháng 7, 2008

Câu chuyện qui hoạch đô thị

TTCN - Đã đến lúc chấm dứt hẳn tình trạng tù mù khi đưa ra những quyết định quan trọng đến tương lai của thành phố.

Công tác thiết kế và qui hoạch khi ảnh hưởng đến các công trình quan trọng cần phải có sự thẩm tra và phải có ý kiến của người dân.

Các phương pháp để người dân tham gia trong quá trình xây dựng, qui hoạch có rất nhiều và đã được các nước phát triển sử dụng từ lâu. Chúng ta hoàn toàn có thể tham khảo những gì họ đã làm. Thêm nữa, cần phải từ bỏ lối suy nghĩ chỉ có nhà “chuyên môn” về qui hoạch mới có thể nói chuyện qui hoạch. Vì lẽ, qui hoạch không phải là chuyện chuyên môn mà chính là việc quyết định hoàn cảnh sống của hàng trăm ngàn người. Xin hãy lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người dân.

Câu chuyện thứ nhất:

Robert Moses từng được coi là người xây dựng vĩ đại, người dựng những cây cầu, những xa lộ và các dự án nhà ở của thành phố New York. Nhưng Robert Moses đã đi vào lịch sử qui hoạch như một kẻ tội đồ. Bị ám ảnh bởi quyền lực và danh vọng do những xa lộ và những cây cầu do chính ông tạo ra, Moses đã san bằng nhiều khu dân cư ở New York như khu nam Bronx, khu Coney Island, đồng thời ông cũng là người chịu trách nhiệm trong việc cố tình phá hủy hệ thống giao thông công cộng của New York.

Thậm chí, để xây dựng tuyến đường nối liền Brooklyn và Manhattan, Moses còn muốn xây dựng một cây cầu mà hệ quả là việc phá hủy công viên Battery (nơi từ đó đưa du khách đến thăm tượng Nữ Thần Tự Do) và có khả năng đe dọa cảnh quan khu trung tâm tài chính New York. Đề xuất này tất nhiên vấp phải sự phản đối dữ dội của những nhà bảo tồn di sản, giới tài chính phố Wall và những chủ sở hữu bất động sản của khu vực. Cuối cùng, Moses phải lùi bước và giải pháp xây dựng đường ngầm qua sông thắng thế.

Vào những năm 1960, đề xuất xây dựng tuyến đường cao tốc hạ Manhattan của Moses với dự định cắt qua khu phố Harlem và SoHo nổi tiếng của New York cũng gặp phải sự chống đối của dân chúng. Kết cục dự án bị bãi bỏ vào năm 1964.

Như vậy, việc phá bỏ các công trình lịch sử, giải tỏa các khu dân cư đang đầy sức sống để làm đường cho xe cơ giới luôn đặt ra một câu hỏi: thành phố làm ra là để cho con người hay cho ôtô? Phá hủy các công trình văn hóa, các khu vực lịch sử để thay vào đó một thứ máy móc vô hồn (1) phải chăng làm cho thành phố tốt hơn?

Câu chuyện thứ hai:

Kansas City và vùng phụ cận là nơi có mức sống tương đối dễ chịu cho nhiều người dân Mỹ. Với thu nhập vào hạng khá so với bình quân thu nhập toàn nước Mỹ, Kansas City lại không thể nào địch được về mặt danh tiếng với những thành phố nghèo hơn như Saint Louis hoặc New Orlean chẳng hạn. Chẳng có ai nói Kansas City là một thành phố nổi tiếng, thay vì vậy khi nói đến vùng trung tây nước Mỹ người ta nhắc nhiều đến Saint Louis.

Điều này không phải là ngẫu nhiên: người ta biết đến Saint Louis bởi cái Cổng Vòm (The Gateway Arch) - một vòm cuốn bằng thép không gỉ cao hơn 180m, do kiến trúc sư lừng danh Eero Saarinen thiết kế. Công trình này được coi là công trình tưởng niệm cao nhất nước Mỹ. Kansas City không có một công trình kiến trúc nào tầm cỡ như thế nên dễ hiểu vì sao nó không có gì đọng lại nhiều trong tâm trí của người Mỹ.

Có thể coi Kansas City, như người Mỹ thường nói, là một nơi ở giữa của chẳng nơi nào (middle of nowhere). Chính những công trình kiến trúc có giá trị văn hóa cao đã tạo nên cá tính cho nơi chốn.

Câu chuyện thứ ba:

Nhà ga trung tâm New York do kiến trúc sư Charles McKim thiết kế theo phong cách Beaux-Arts được coi như một viên ngọc của thành phố New York. Từ những năm 1950-1960, một loạt hành động phá dỡ nhà ga trung tâm New York (thường được biết đến với cái tên Penn Station) xảy ra. Đứng trước nguy cơ mất hoàn toàn một công trình có giá trị kiến trúc và lịch sử, năm 1965 thành phố New York chuẩn y luật bảo tồn cảnh quan.

Mục đích là bảo vệ các công trình lịch sử khỏi bị biến dạng và phá hủy nếu không có sự thẩm tra của công chúng và sự cho phép của chính quyền. Không lâu sau Công ty Penn, đơn vị quản lý Penn Station, đề xuất xây dựng một tòa tháp cao 55 tầng ngay phía trên nhà ga trung tâm. Đề xuất này nhanh chóng bị Ủy ban Bảo tồn cảnh quan của thành phố New York phản đối. Sau đó nhà ga đưa đơn kiện lên tòa án của bang và cuối cùng vụ án được Tòa án tối cao Mỹ thụ lý.

Năm 1978 Tòa án tối cao Mỹ phán quyết như sau: đơn kiện của nhà ga Penn cho rằng thành phố New York ngăn cấm việc xây dựng trên khoảng không của nhà ga như “sự tước đoạt quyền lợi” là sai trái. Đây là một tranh chấp nổi bật trong lịch sử qui hoạch đô thị và bảo tồn. Lần đầu tiên trong lịch sử, tòa án bên nguyên đã đưa ra lý lẽ: thẩm mỹ tự thân cũng đáng được bảo vệ. Vụ án chứng tỏ một công trình có giá trị lịch sử là đáng được bảo tồn. Như vậy lần đầu tiên giá trị văn hóa đã được bảo vệ trước tòa án (2).

Các công trình văn hóa chính là những biểu tượng của thành phố. Nhờ chúng mà người ta phân biệt thành phố này với thành phố khác. Chúng chính là đặc trưng của một thành phố. Đặc trưng ấy cũng giống như đặc trưng của một con người. Nó phải là cái riêng, cái không lẫn vào đâu được, nó phải là cái khẳng định cái “tôi” của thành phố.

Theo nhà qui hoạch đô thị lỗi lạc Kevin Lynch, một thành phố cần có được bảy yếu tố: sự sống động, tri giác về địa điểm, sự phù hợp, khả năng tiếp cận, khả năng kiểm soát, tính hiệu quả và cuối cùng là tính công bằng. Trong các yếu tố đó, tri giác về nơi chốn (sense of place) là yếu tố cực kỳ quan trọng và thường được các nhà qui hoạch đô thị đưa lên hàng đầu như một tiêu chí cho qui hoạch.

Có thể kể ra rất nhiều về ý nghĩa của cảm nhận về nơi chốn. Chẳng hạn đó chính là yêu cầu về đặc trưng của vị trí. Đó chính là khả năng mà con người có thể nhận dạng một nơi như một vị trí khác hoàn toàn với các nơi khác, đó có thể là tính độc nhất vô nhị của địa điểm, có thể khơi gợi lại các kỷ niệm của nơi mà ta đã từng qua.

Như Lynch nói: Cá tính của một nơi nào đó cũng rất gần với cá tính con người. “Tôi ở đây” (I am here) hỗ trợ cho câu nói “Tôi đây” (I am) (3). Một thành phố nhợt nhạt không bản sắc cũng giống như một con người không có tên. Chẳng ai nhớ đến thành phố đó, ngay cả cư dân của nó. Liệu chúng ta đã sẵn sàng phá nát bản sắc của thành phố?

Từ câu chuyện của nước Mỹ mới nhìn lại thành phố của chúng ta. Ý tưởng xóa sổ Thư viện Khoa học tổng hợp Đà Nẵng, đẩy Bảo tàng Điêu khắc Chăm xuống gầm cầu, tất cả những “sáng kiến” đó sẽ ủi sạch dấu ấn của thành phố. Đà Nẵng dẫu có được đường cao tốc, trung tâm thương mại hiện đại nhưng chẳng có nổi nét riêng của mình.

Người Đà Nẵng sẽ không còn gì để nhớ về thành phố của mình nữa. Thay vào đó, nơi trước kia từng là thư viện với vòm cây xanh mướt (một thứ xa xỉ trong lòng những thành phố lớn), với công trình cổ trầm tư giờ sẽ là một cao ốc ngất trời với bóng lộn những chiếc xe đắt tiền và những ô cửa kính của các Coco Channel, Nautica hoặc Gucci kênh kiệu nhìn khách qua đường, biến họ thành lạc loài. Liệu Đà Nẵng của chúng ta có muốn đánh đổi những báu vật của người xưa để lấy “cuộc sống hàng hiệu” đó không?

Cuối cùng xin nói thêm về hai chữ hiện đại và phát triển. Đừng nghĩ hiện đại hoặc phát triển là tất cả. Nếu hiện đại là hi sinh những giá trị của thành phố mà Lynch đã nêu thì nên suy nghĩ lại tốc độ phát triển. Chính phủ Trung Quốc sau thời kỳ say sưa với tốc độ phát triển chóng mặt nay đã phải tự nhìn lại. Họ hiểu rằng với tốc độ hủy hoại môi trường như hiện nay thì cái giá phải trả cho tương lai sẽ là quá đắt.

(1) Ở đây tôi muốn mượn ý của Mumford khi ông dùng từ monotechnic để chỉ loại công nghệ chỉ phục vụ bản thân nó. Mumford coi mạng lưới giao thông của nước Mỹ như một điển hình của monotechnic khi đối tượng phục vụ của nó là ôtô chứ không phải con người.

(2) Barlow Burke - Tìm hiểu luật phân vùng qui hoạch và sử dụng đất. Nhà xuất bản Lexis Nexis.

(3) Kevin Lynch - Hình thức hoàn hảo của thành phố. Nhà xuất bản MIT Press.

NGUYỄN HỒNG NGỌC (Học viên cao học ngành qui hoạch đô thị Đại học Kansas)

Kevin Lynch- Good City Form- Hinh thuc hoan hao cua thanh pho