Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2008

HOC BONG NGHIEN CUU NGANH KY THUAT VA KHOA HOC VAT LY

RESEARCH FELLOW
Application Address: www.surrey.ac.uk/jobs
Telephone: +44 (0)1483 686106
Location: SURREY
Salary: Up to £33,432 per annum
Contract type: Full time
Contract term: permanent
University of Surrey
Faculty of Engineering & Physical Sciences
Research Fellow
Up to £33,432 per annum (subject to experience and qualifications)
This is an opportunity for a highly motivated and enthusiastic researcher to join the Silicon Photonics Group within the Advanced Technology Institute (ATI) at the University of Surrey. A four year research fellowship is available to work on the design and simulation, and experimental investigation of a series of optical devices, most notably optical couplers and filters, fabricated in silicon, on the SOI platform. This will involve investigation and optimisation of the detailed optical and electronic properties of the proposed devices, overseeing the fabrication, and evaluation of fabricated devices. The work will involve close scientific interaction with the other consortium partners to ensure CMOS compatibility of materials, and processing requirements. The work will also involve presenting results of the work at conferences around the world, contributing to the project management, and together with the collaborators, helping in developing the direction of the project. Candidates should have a PhD and experience in the design, modelling, preparation, experimental measurement, and analysis of optoelectronic devices in silicon.
The UK Silicon Photonics Consortium, led by the University of Surrey, has received funding of £5 Million from the Engineering and Physical Sciences Research Council (EPSRC). The consortium includes the universities of Surrey, St. Andrews, Leeds, Warwick, and Southampton as well as industrial and international participation from Qinetiq Ltd and the European research centres IMEC, and LETI. The project will be directed by Prof. Graham Reed of Surrey University. Several posts will shortly be available, for researchers and research students to work on the project at Surrey.
Informal enquiries may be directed to Professor Graham T Reed (g.reed@surrey.ac.uk)
The duration of this post is up to 48 months.
Apply online or download application documents and further information at www.surrey.ac.uk/jobs If you are unable to apply online please contact Mrs Monica Gluhak at m.gluhak@surrey.ac.uk or +44 (0)1483 686106 quoting Ref: 6679.
Closing date: Wednesday, 31 December 2008.
We acknowledge, understand and embrace diversity
www.surrey.ac.uk/jobs
2083198-01

Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2008

Chuong trinh hoc gia Hoa Ky- chuyen vien giao duc

ĐẠI SỨ QUÁN HOA KỲ TẠI HÀ NỘI
PHÒNG VĂN HOÁ – THÔNG TIN



Thông báo
CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU HOA KỲ
DÀNH CHO HỌC GIẢ VÀ CHUYÊN VIÊN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

Phòng Văn hoá – Thông tin (PAS), Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội đang tìm kiếm ứng viên phù hợp để đề cử cho các chương trình Nghiên cứu Hoa Kỳ dành cho học giả và giáo viên/chuyên viên giáo dục phổ thông năm 2009. Giảng viên đại học và các nhà nghiên cứu về Hoa Kỳ, giáo viên/chuyên viên giáo dục phổ thông có nguyện vọng đăng ký tham gia các chương trình nghiên cứu này xin vui lòng điền vào mẫu đơn dưới đây và gửi về cho PAS trước ngày Thứ Hai, 19/01/2009. Kết quả đề cử sẽ được thông báo vào đầu tháng 4/2009.

Khái quát về Chương trình

Chương trình Nghiên cứu Hoa Kỳ là các chương trình nghiên cứu nâng cao bậc sau đại học kết hợp thăm quan thực tế với mục đích tạo cơ hội cho giảng viên đại học và các nhà nghiên cứu về Hoa Kỳ, giáo viên/chuyên viên giáo dục phổ thông có được hiểu biết sâu sắc hơn về xã hội, văn hoá và thể chế của Hoa Kỳ. Khi về nước, những kiến thức và kinh nghiệm học viên thu nhận được từ chương trình hy vọng sẽ giúp củng cố chương trình đào tạo và nâng cao chất lượng giảng dạy về Hoa Kỳ ở các trường học và cơ quan của học viên.

Mỗi chương trình bao gồm 18 học viên đến từ các nước khác nhau trên thế giới (trừ chương trình dành cho Giáo viên/Chuyên viên Giáo dục Phổ thông) và kéo dài trong sáu tuần, bắt đầu khoảng giữa tháng 6/2009. Mọi chi phí tham dự chương trình, bao gồm: quản lý chương trình, đi lại nội địa và quốc tế, nơi ở, tài liệu học tập và các chi phí sinh hoạt khác sẽ do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tài trợ.

Tóm tắt các Chương trình Nghiên cứu Hoa Kỳ

1. Chương trình Nghiên cứu Văn minh Hoa Kỳ

Được tổ chức tại Đại học New York, Chương trình Nghiên cứu Văn minh Hoa Kỳ giúp cho 18 học viên là các giảng viên đại học và chuyên viên nghiên cứu hiểu biết sâu sắc hơn về xã hội, văn hoá, các giá trị và thể chế của Hoa Kỳ. Chương trình này nghiên cứu các giai đoạn lịch sử, trào lưu, xung đột và những vấn đề then chốt tác động lên tiến trình phát triển của đất nước và con người Hoa Kỳ, trong đó có các vấn đề và tranh luận đương đại về chính trị, kinh tế và xã hội. Sự phức tạp và đặc trưng hỗn tạp của xã hội Hoa Kỳ, cũng như những thể chế và giá trị giúp Hoa Kỳ thích nghi với sự đa dạng này, cũng sẽ được nhấn mạnh.

2. Chương trình Nghiên cứu Chính trị và Tư duy Chính trị Hoa Kỳ

Được tổ chức tại Đại học Massachusetts, thành phố Amherst, Chương trình Nghiên cứu Chính trị và Tư duy Chính trị Hoa Kỳ giúp cho 18 học viên là giảng viên đại học hiểu biết sâu sắc hơn về các thể chế chính trị và những trào lưu chủ đạo trong tư duy chính trị Hoa Kỳ. Chương trình này giúp học viên hiểu biết tường tận về những trào lưu tư tưởng và chính trị tác động tới các thể chế chính trị đương đại của Hoa Kỳ, gồm cả giới thiệu khái quát về tư duy chính trị thời kỳ lập quốc (những nền tảng của hiến pháp), sự phát triển và hoạt động hiện thời của Tổng thống, Quốc hội và Tư pháp Liên bang. Phần nghiên cứu về các thể chế chính trị sẽ đề cập hệ thống bầu cử, các đảng phái chính trị và nhóm lợi ích, hệ thống dịch vụ công, truyền thông và các cơ quan tham mưu, nhà nước phúc lợi/quản lý. Chương trình cũng đề cập những vấn đề về văn hoá và chính trị đương đại của Hoa Kỳ (bao gồm các quyền dân sự, quyền của phụ nữ, nhập cư,...), và ý nghĩa sự tham gia của công chúng trong quá trình xây dựng chính sách công.

3. Chương trình Nghiên cứu Văn học Hoa Kỳ đương đại

Được tổ chức tại Đại học Louisville, Chương trình Nghiên cứu Văn học Hoa Kỳ đương đại giúp cho 18 học viên là các giảng viên đại học và nhà nhiên cứu hiểu biết sâu hơn về văn hoá và xã hội Hoa Kỳ, quá khứ cũng như hiện tại, thông qua nghiên cứu về về nền văn học Hoa Kỳ đương đại. Chương trình có hai mục đích: nghiên cứu các tác phẩm và nhà văn Hoa Kỳ đương đại thuộc nhiều thể loại khác nhau; đồng thời lý giải những dòng chảy rộng lớn hơn của xã hội và văn hoá Hoa Kỳ đương đại được phản ánh như thế nào trong những đề tài được đề cập. Chương trình cũng sẽ nghiên cứu sự đa dạng trong diện mạo văn học Hoa Kỳ, tìm hiểu dấu ấn của những truyền thống văn học Hoa Kỳ qua các nhà văn, các tư tưởng và trào lưu đương đại. Đồng thời, chương trình cũng giúp học viên tiếp cận với những nhà văn đại diện cho sự bứt phá khỏi truyền thống cũ và đang tạo dựng những hướng đi mới cho văn học Hoa Kỳ.

4. Chương trình Nghiên cứu Chính sách Đối ngoại Hoa Kỳ

Được tổ chức tại Đại học Florida, Chương trình Nghiên cứu Chính sách Đối ngoại Hoa Kỳ cung cấp cho 18 học viên là giảng viên đại học và nhà nghiên cứu hiểu biết sâu sắc hơn về các thức hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, trong đó nhấn mạnh thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh. Chương trình này bắt đầu bằng việc điểm lại lịch sử phát triển chính sách đối ngoại Hoa Kỳ và đề cập những sự kiện, nhân vật và triết lý chủ đạo đã từng chi phối chính sách đối ngoại Hoa Kỳ. Ngoài ra, chương trình lý giải vai trò của những thành phần chủ chốt trên bàn cờ chính sách đối ngoại, bao gồm các ngành hành pháp và lập pháp, báo chí, dư luận, các viện nghiên cứu, các tổ chức quốc tế và phi chính phủ và cách thức những thành phần này tranh luận, hợp tác, gây ảnh hưởng và chịu trách nhiệm về chính sách đối ngoại. Các chuyên đề nổi bật về khu vực dành cho cả nhóm như chính sách môi trường và an ninh năng lượng ở châu Âu; thương mại và quyền con người ở châu Á; viện trợ nước ngoài và hỗ trợ nhân đạo ở châu Phi; buôn lậu ma tuý và nhập cư ở Tây Bán cầu; và chống khủng bố ở Cận Đông và Nam Á cũng có thể được ưu tiên đề cập. Ngoài ra, chương trình còn có các bài giảng tập trung vào những vấn đề hiện nay như giải trừ vũ khí hạt nhân, tiến trình hoà bình Trung Đông, và các hành động quân sự của Mỹ.

5. Chương trình Nghiên cứu Báo chí và Truyền thông

Được tổ chức tại Đại học Florida, thành phố Gainesville, Chương trình Nghiên cứu Báo chí và Truyền thông giúp cho 18 học viên là giảng viên và chuyên gia về báo chí hiểu biết sâu sắc hơn về vai trò của báo chí và truyền thông trong xã hội Hoa Kỳ. Chương trình sẽ đề cập những chủ đề then chốt trong báo chí, bao gồm cả khái niệm “tự do báo chí”, các quyền trong Tu chỉnh đầu tiên của Hiến pháp Hoa Kỳ, mối quan hệ giữa truyền thông và lợi ích công cộng. Những vấn đề về pháp lý và đạo đức đặt ra với báo chí cũng sẽ được lồng ghép trong tất cả các nội dung của khoá học. Chương trình còn cung cấp các phương pháp giảng dạy cho sinh viên báo chí những kỹ năng nghề nghiệp cơ bản: nghiên cứu, đưa tin, viết bài và biên tập. Chương trình cũng sẽ đề cập đến tác động của công nghệ đối với báo chí, làm rõ những ảnh hưởng của Internet, tính toàn cầu hoá của tin tức, sự phát triển của truyền hình vệ tinh mà mạng phát thanh, cũng như các tiến bộ khác trong truyền thông đang làm biến đổi nghề báo.

6. Chương trình Nghiên cứu Đa dạng Tôn giáo ở Hoa Kỳ

Được tổ chức tại Đại học California, thành phố Santa Barbara, Chương trình Nghiên cứu Đa dạng Tôn giáo ở Hoa Kỳ giúp cho 18 học viên là giảng viên đại học và chuyên viên về tôn giáo hiểu biết sâu sắc hơn về văn hoá và xã hội Hoa Kỳ, quá khứ cũng như hiện tại, thông qua nghiên cứu nghiên cứu về đa dạng tôn giáo ở Hoa Kỳ và tác động qua lại đối với nền dân chủ của Hoa Kỳ. Sử dụng cách tiếp cận đa ngành, dựa trên các ngành như lịch sử, khoa học chính trị, xã hội học, nhân chủng học, luật và các ngành khác phù hợp, chương trình sẽ nghiên cứu mối quan hệ cả trong lịch sử và hiện tại giữa nhà nước và nhà thờ ở Mỹ. Học viên cũng sẽ nghiên cứu những đặc trưng sau của sự đa dạng tôn giáo ở Hoa Kỳ: những cách thức ảnh hưởng, và bị ảnh hưởng của tư tưởng và hoạt động tôn giáo đối với sự phát triển của nền dân chủ kiểu Mỹ; những giao thoa giữa tôn giáo và nền chính trị Hoa Kỳ trong các lĩnh vực như bầu cử, chính sách công và chính sách đối ngoại; xã hội học và nhân khẩu học về tôn giáo ở Hoa Kỳ ngày nay, bao gồm cả khảo sát về sự đa dạng trong tín ngưỡng tôn giáo đương đại và những tác động của nó tới chính trị Hoa Kỳ.

7. Chương trình dành cho Giáo viên/Chuyên viên Giáo dục Phổ thông

Được tổ chức thành hai lớp, mỗi lớp 30 học viên, tại Viện Đào tạo và Phát triển, thành phố Amherst, Massachusetts, và tại Đại học Illinois, thành phố Chicago, Chương trình Nghiên cứu dành cho Giáo viên/Chuyên viên giáo dục Phổ thông giúp cho học viên là giáo viên, giảng viên sư phạm, soạn giả chương trình giảng dạy, soạn giả sách giáo khoa, chuyên viên giáo dục,...) hiểu biết sâu sắc hơn về văn hoá, xã hội và nền giáo dục của Hoa Kỳ, quá khứ cũng như hiện tại. Chương trình sẽ tập trung vào chủ đề trọng tâm là văn minh Hoa Kỳ và dành riêng một phần nói về các vấn đề đương đại. Kết hợp các cách tiếp cận truyền thống, đa ngành và liên ngành, chương trình sẽ lý giải lịch sử và sự tiến hoá của các giá trị và thể chế giáo dục của Hoa Kỳ. Chương trình cũng sẽ giải thích những tranh luận trong xã hội Hoa Kỳ đương đại về chính trị, kinh tế và xã hội.

Tiêu chuẩn của ứng viên

Ứng viên đăng ký các chương trình Nghiên cứu Hoa Kỳ phải có đủ các điều kiện sau:
· Độ tuổi từ 25-50;
· Đối với Chương trình 1-6: Giảng viên hoặc chuyên viên nghiên cứu về Hoa Kỳ yêu nghề và có bề dày kinh nghiệm, ưu tiên các ứng viên có bằng Thạc sỹ trở lên và có hiểu biết sâu sắc về chủ đề của chương trình đăng ký;
· Đối với Chương trình 7: Giáo viên phổ thông, giảng viên sư phạm, soạn giả chương trình giảng dạy, soạn giả sách giáo khoa, chuyên viên giáo dục, hoặc các chuyên viên khác liên quan tới giáo dục phổ thông yêu nghề và có mong muốn đưa các nội dung về Hoa Kỳ học vào chương trình giảng dạy;
· Quen với cuộc sống học đường, mong muốn và có khả năng tham gia đầy đủ một chương trình nghiên cứu sau đại học và thăm quan bận rộn;
· Giỏi tiếng Anh.

PAS đặc biệt khuyến khích các ứng viên có những điều kiện sau đăng ký chương trình:
· Các giảng viên hoặc nhà nghiên cứu trẻ có kinh nghiệm và hầu như chưa từng đến Hoa Kỳ;
· Cơ quan của ứng viên đang có kế hoạch đưa các học phần Hoa Kỳ học vào chương trình giảng dạy, phát triển các khoá học mới liên quan tới các chủ đề của chương trình nghiên cứu mà ứng viên đăng ký, đổi mới và cập nhật các khoá học hiện có về Hoa Kỳ, hoặc tổ chức các seminar/hội thảo cho đồng nghiệp về những lĩnh vực liên quan tới chủ đề của chương trình nghiên cứu.

Đăng ký tham gia

Các ứng viên có đủ điều kiện xin vui lòng điền vào mẫu đơn bằng tiếng Anh (kèm theo) và gửi về địa chỉ email pas.culture@gmail.com trước 17h, thứ Hai, ngày 19/01/2009. Ngoài ra, bản gốc của mẫu đơn này cùng với bản sao của các văn bằng, chứng chỉ kèm theo xin gửi về địa chỉ sau trước hạn trên đây:

Chương trình Nghiên cứu Hoa Kỳ dành cho Học giả
Phòng Văn hoá Thông tin
Đại sứ quán Hoa Kỳ
7 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội

Hồ sơ nộp sau thời hạn nói trên sẽ không được xem xét.
APPLICATION FOR THE 2009 STUDY OF THE UNITED STATES
INSTITUTE ON ……………………………………………….

*****

A. Full Name (exactly as it appears on your passport)

· First Name:

· Middle Name:

· Surname(s):

B. Date of Birth (mm/dd/yyyy)

C. City of Birth

D. Country of Birth

E. Country of Residence

F. Country(ies) of Citizenship

G. Home Address, Telephone and E-mail

H. Gender

I. Medical, Physical, Dietary or other Personal Considerations:
Please state if the candidate has any existing medical conditions or is currently taking any prescription medication. This will not affect candidate selection, but will enable the host institution to make any necessary accommodations.

J. Current Position and Title

K. Current Institutional Affiliation and complete address

L. Work Experience, including previous positions and titles

M. Education, Academic and Professional Training, including degree earned and fields of specialization

N. Active Professional Memberships

O. Publications (please do not list any more than 10)

P. Previous Experience in the United States:
Please list any and all trips the candidate has made to the United States and include approximate dates and the reason for travel.

Q. Family Residing in the United States:
Please list any immediate family members who are currently residing in the United States, including city and state.

R. Evidence of English Fluency (e.g. degree, test score, etc.)

T. Personal Statement (no more than one page)

Thứ Năm, 11 tháng 12, 2008

Thong bao sinh hoat Cau lac bo Kien truc

Xin thong bao:

Thu bay, ngay 03 thang 01 nam 2009 tai Van phong Khoa XD DD&CN se to chuc buoi sinh hoat Cau Lac Bo Kien truc - Quy hoach dau tien. Moi cac ban quan tam den tham du. We have nothing but fun!!!

Ngoc
ĐẠI SỨ QUÁN HOA KỲ TẠI HÀ NỘI
PHÒNG VĂN HOÁ – THÔNG TIN


Thông báo
CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU HOA KỲ DÀNH CHO
THỦ LĨNH SINH VIÊN NĂM 2009

Phòng Văn hoá Thông tin (PAS), Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội, đang tìm kiếm ứng viên cho Chương trình Nghiên cứu Hoa Kỳ (SUSI) dành cho Thủ lĩnh Sinh viên năm 2009. Sinh viên năm thứ nhất đến năm thứ ba các trường đại học Việt Nam có năng lực lãnh đạo thể hiện qua kết quả học tập, sự đóng góp cho cộng đồng cũng như các hoạt động ngoài giảng đường và có khả năng tiếng Anh tốt có thể nộp đơn tham dự chương trình. Sẽ có tám suất học bổng toàn phần dành cho các sinh viên Việt Nam. Thời hạn nộp đơn đăng ký: 17h00, thứ Hai, 19/01/2009.
Khái quát về chương trình
Chương trình Nghiên cứu Hoa Kỳ dành cho Thủ lĩnh Sinh viên là một chương trình nghiên cứu nâng cao nhằm cung cấp cho các thủ lĩnh sinh viên những hiểu biết sâu sắc hơn về Hoa Kỳ, đồng thời giúp họ nâng cao các kỹ năng lãnh đạo. Chương trình nghiên cứu bao gồm các thảo luận seminar, nghiên cứu tài liệu, thuyết trình nhóm và bài giảng được phân bổ một cách hợp lý. Ngoài các hoạt động trên lớp, chương trình còn có các chuyến thăm quan học tập và đi thực tế tại nhiều địa điểm khác nhau ở Hoa Kỳ và cơ hội tham gia các hoạt động tình nguyện.
Toàn bộ chi phí tham dự chương trình, bao gồm chi phí tổ chức chương trình, đi lại nội địa và quốc tế, nơi ở, tài liệu học tập và các chi phí sinh hoạt khác sẽ do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đài thọ.
Chương trình Nghiên cứu Hoa Kỳ năm nay dành cho 20 thủ lĩnh sinh viên từ các nước Myanmar, Campuchia và Việt Nam sẽ được tổ chức trong năm tuần, từ 28/06 – 02/08/2009, bao gồm bốn tuần tham dự khoá học và một tuần thăm quan ở Hoa Kỳ, trong đó có 3 ngày tổng kết chương trình tại thủ đô Washington, D.C.
Tiêu chuẩn ứng viên
Chương trình lựa chọn ứng viên theo nguyên tắc cạnh tranh dựa trên triển vọng trở thành một thủ lĩnh sinh viên thông qua kết quả học tập, sự đóng góp cho cộng đồng và các hoạt đồng ngoài giảng đường, không phân biệt ngành học, dân tộc, tôn giáo hay giới tính. Ứng viên đáp ứng ít nhất các điều kiện sau đây có thể nộp đơn tham dự chương trình:
v Là sinh viên đại học chính quy năm thứ nhất, thứ hai hoặc thứ ba;
v Ở độ tuổi không quá 25;
v Cam kết trở về trường học sau khi kết thúc chương trình nghiên cứu;
v Thể hiện những tố chất lãnh đạo và triển vọng trong trường học và các hoạt động cộng đồng;
v Có mục đích nghiêm túc khi nghiên cứu về Hoa Kỳ;
v Có kết quả học tập xuất sắc, thể hiện ở điểm thi các môn học, các phần thưởng và giới thiệu của các thầy, cô giáo;
v Từng tham gia các hoạt động cộng đồng và ngoài giảng đường;
v Hầu như chưa từng đi học hoặc đi du lịch tại Hoa Kỳ hoặc bất kỳ nước nào khác;
v Chín chắn, có trách nhiệm, độc lập, tự tin, cởi mở, vị tha, sâu sắc và ham học hỏi;
v Mong muốn và có khả năng tham gia vào một chương trình nghiên cứu, tham quan và hoạt động xã hội bận rộn;
v Quen với cuộc sống học đường, sẵn sàng ở theo nhóm và có khả năng tự điều chỉnh cho phù hợp với văn hoá và tập tục xã hội mới.

Đăng ký tham gia
Các ứng viên có đủ điều kiện xin vui lòng điền vào mẫu đơn bằng tiếng Anh (kèm theo) và gửi về địa chỉ email pas.culture@gmail.com trước 17h, thứ Hai, ngày 19/01/2009. Ngoài ra, bản gốc của mẫu đơn này cùng với bản sao của các văn bằng, chứng chỉ kèm theo xin gửi về địa chỉ sau trước hạn trên đây:

Chương trình Nghiên cứu Hoa Kỳ
Phòng Văn hoá Thông tin
Đại sứ quán Hoa Kỳ
7 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội

Hồ sơ nộp sau thời hạn nói trên sẽ không được xem xét.
APPLICATION FOR THE 2009 STUDY OF THE UNITED STATES
INSTITUTE FOR STUDENT LEADERS

A. Full Name (exactly as it appears on passport):
· First name(s):
· Middle name(s):
· Surname(s):

B. Date of Birth (mm/dd/yyy)

C. City of Birth

D. Country of Birth

E. Country of Residence

F. Country(ies) of Citizenship

G. Home Address, Telephone and E-mail

H. Gender

I. Medical, Physical, Dietary or other Personal Considerations:
Please state if the candidate has any existing medical conditions or is currently taking any prescription medication. This will not affect candidate selection, but will enable the host institution to make any necessary accommodations.

J. College or University

K. Field of Study

L. Work Experience

M. Education, Academic and Professional Training

N. Active Memberships

O. Special Interests

P. Extracurricular Activities

Q. Previous Experience in the United States:
Please list any and all trips the candidate has made to the United States and include approximate dates and the reason for travel.


R. Family Residing in the United States:
Please list any immediate family members who are currently residing in the United States, including city and state.

S. Evidence of English Fluency (e.g. paper-based TOEFL or iBT TOEFL scores)

T. Future study or career plans

U. Personal Statement (no more than one page)

Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2008

QUY HOACH MỚI: Jacobs-MICA

http://www.nowupload.com/:iYu

Jacobs-MICA

Do bài này khá dài nên mình chỉ up lên 1 đoạn để các bạn tham khảo sơ quá, các bạn có thể download full theo đường dẫn sau http://www.nowupload.com/:iYu, có đầy đủ hình ảnh.

Giới thiệu về Jane Jacobs và tác phẩm The Death and Life of Great American Cities (Cuộc sống và cái chết của những thành phố lớn ở Hoa Kỳ)
Dịch từ File powerpoint của Khoa Thiết kế Đồ họa, Trường Nghệ thuật Maryland (The Maryland Institute College of Art)



Tháng 2, 2008
Miêu tả Jane Jacobs bằng 5 từ:


Jacobs yêu thích vỉa hè. . .

. . . và ghét công viên.
Nhưng hãy thử phát biểu lại:

Jane Jacobs muốn trả lại phẩm giá cho đường phố và vỉa hè bằng cách hiểu biết những loại hoạt động và mối quan hệ mà chúng hỗ trợ


Trong khi đánh giá lại công viên và các không gian công cộng, bao gồm sự phụ thuộc của chúng với đường phố và vỉa hè để đảm bảo sự sống động, lợi ích và mức độ an toàn.
JANE JACOBS

Sinh ở thành phố Scranton, bang Pennsylvania, 1916

Chuyển đến khu Greenwich Village ở thành phố New York, 1928

Phó biên tập tạp chí Architectural Forum, 1952
Viết tác phẩm The Death and Life of Great American Cities, 1961

Năm 1962 bà làm Chủ tịch ủy ban hỗn hợp Ngăn chặn Đường cao tốc Hạ Mahattan (Stop the Lower Manhattan Expressway).

Phản đối chiến tranh Việt Nam, bà và gia đình định cư tại thành phố Toronto, Canada năm 1968, tại đó bà vẫn làm việc với tư cách một nhà hoạt động về đô thị

Mất tại thành phố Toronto, năm 2006 tại độ tuổi 90.
THÀNH PHỐ ĐẸP ĐẼ RỰC RỠ HÀO QUANG
(THE RADIANT GARDEN CITY BEAUTIFUL)
Hay Jane Jacobs ghét những điều gì về quy hoạch đô thị

Trong đọan mở đầu của tác phẩm Cái chết và sự sống của những thành phố lớn ở Hoa Kỳ, Jane Jacobs tuyên chiến với những trường phái chính thống của quy hoạch đô thị:


“Quyển sách này là một trận chiến với quy hoạch đô thị và cải tạo đô thị. Nó cũng là và chủ yếu là một cố gắng giới thiệu những nguyên tắc mới của quy hoạch đô thị và cải tạo đô thị, nó khác biệt và thậm chí đối lập với những gì đang được dạy từ các trường quy hoạch và kiến trúc cho đến các ấn phẩm trên các tạp chí dành cho phụ nữ và tạp chí ngày Chủ Nhật.

Bà nhắm đến ba trường phái chính trong quy hoạch đô thị:
- Thành phố vườn
- Thành phố rực rỡ hào quang (the Radiant City)
- Thành phố Đẹp (the City Beautiful)

Thứ Năm, 11 tháng 9, 2008

Lỗi phông chữ khi đọc Blog

Doi khi ban vao blog va thay toan may o vuong, rat don gian, ban chi can chon the TOOL , phia tren, ben canh FILE, EDIT ay, sau do ban chon the Internet Options, sau do , ban chon cho minh the Accessibility, ban danh dau 2 o o giua, roi chon Apply.

Thứ Tư, 16 tháng 7, 2008

XÁC ĐỊNH THUẬT NGỮ CỦA BẠN

Hay cộng đồng được quy hoạch tổng thể là gi?

James Krohe Jr.

Nguyễn Hồng Ngọc lược dịch

Ở Arizona giới bất động sản (bđs) địa phương tính sơ bộ rằng gần ba phần tư nhà ở hiện được bán trong vùng Phoenix thuộc các Cộng Đồng Được Quy Hoạch (master planned community-MPC), mà thực ra đang trở thành hình thức xây dựng trong thời kỳ hậu-ngọai ô của Mỹ, đặc biệt là ở vùng Tây, Tây Nam, và Đông Nam.

Liệu có cần bằng chứng không? Một quyển sách hướng dẫn người mua nhà trong MPC của bảy tiểu bang thuộc vùng Đông Nam mô tả 530 cộng đồng được quy hoạch trong 75 thành phố. Còn ở quận Cam của California thật khó tìm ra được một ngôi nhà mới xây không thuộc về MPC.

Mặc dù thuật ngữ có vẻ khá mới, ý tưởng của một cộng đồng được quy họach theo sự định hướng của nhà phát triển có thể lần trở về những nơi như Riverside ở Illinois do Frederick Law Olmsted thiết kế vào những năm 1860. Nhà phát triển Emery E. Childs gọi nó như một “làng ngoại ô”, ý ông ám chỉ một lọai có nhiều dịch vụ và tiện ích do Riverside cung cấp hơn khi so sánh với các khu dân cư phân lô bình thường khác (đây cũng là điểm chung của các MPC hiện đại).

Suốt những thập niên đầu của thế kỷ 20, tất cả những người tiến hành kiểu phát triển như vậy vẫn gọi chúng là quy hoạch phân lô. Thỉnh thoảng khi tiếp thị họ nói về “quy hoạch phân lô cao cấp” hoặc “các thành phố khoa học” để phân biệt chúng với những đối thủ cạnh tranh lộn xộn. Một nhà lãnh đạo công nghiệp trong năm 1916 mô tả một dự án như vậy như là một “thành phố được làm cho trật tự.” Năm 1987 Marc Weiss đã viết về nó (MPC) trong quyển sách “Sự trỗi dậy của những người xây dựng cộng đồng.”

Giới hàn lâm và những người bên ngoài ngành công nghiệp BĐS có xu hướng xa lánh loại thuật ngữ vốn dành sự ưu ái cho các thành phố mới hoặc ngay cả “các thành phố vườn” từ khi hình thức vật thể của chúng kết hợp những nơi như Radburn, mô hình của New Jersey cho các khu phát triển ngoại ô theo quy hoạch vào những năm 20 và 30. Sử gia về quy hoạch- William S. Worley sử dụng thuật ngữ “các cộng đồng ở được quy hoạch” cho việc ghi nhận Quận Câu Lạc Bộ Đồng Quê (Country Club District) ở Kansas City.

Vùng Poundbury của Hoàng tử Charles được xây dựng vào cuối những năm 1990 ở Dorset được ghi nhận vì đã giới thiệu phiên bản hiện đại cho nước Anh. Nhưng Hoàng Tử thích gọi nó là một làng đô thị hơn. Một thuật ngữ khác gần tương đương với phong cách của Mỹ là Cambourne ở Cambridgeshire- một thứ MPC của nứơc Anh. Nó thường được gọi bằng cái tên “Làng mới”.

THƯƠNG HIỆU

“Cộng Đồng Quy Hoạch Tổng Thể- Master Planned Community” là thuật ngữ được yêu thích trong nền công nghiệp BĐS. Nguồn gốc chính xác của nó vẫn chưa rõ từ đâu, mặc dù có vẻ nó do các nhà phát triển đặt ra, rồi chính họ là những người biến nó thành một thương hiệu đầy uy lực. Nhưng ngay cả nền công nghiệp BĐS cũng sử dụng thuật ngữ này một cách không thống nhất. Sử gia kiến trúc Richard Ingersoll ghi nhận trong bài báo được viết vào năm 1994 về thành phố Houston rằng trong khi những MPC nói chung còn là những thành phố mới, chúng đã không được tiếp thị như vậy bởi các nhà phát triển, họ thích mô tả chúng như những “cộng đồng”. Chúng được tiếp thị trong các gói từ 1000 đến 2000 acre (khoảng 0.45 hectare- người dịch ND) như các “làng”.

Ngay cả Công ty Irvine vốn được coi như bậc thầy của các Cộng Đồng Quy Hoạch Tổng Thể cũng không dùng thuật ngữ này một cách riêng biệt. Có khi nó gọi khoảng gần một tá MPC vốn tạo thành Nông Trại Irvine như là “những Môi Trường Đô Thị Được Quy Hoạch Tổng Thể”.

Có thể bởi vì mỗi thành phần của nó có quyền lực thuyết phục những khách hàng mua nhà đang lo lắng. Về mặt ngữ nghĩa “Được quy hoạch tổng thể” (“Master planned”) có nghĩa được quy hoạch bởi một chủ nhân (master), bởi một người chịu trách nhiệm. Trong trường hợp của các MPC, chủ nhân này là nhà phát triển, ít nhất cho đến khi xây dựng xong. Rồi sau đó cư dân hoạt động thông qua các hội đoàn dành cho chủ đất và thông qua các hợp đồng trở thành chủ nhân (master) trên lãnh địa của mình.

Cụm từ cũng đề xuất rằng quy hoạch được áp dụng một cách đồng bộ xuống đến tận chi tiết, ví như hình dáng của hộp thư- đúng như dự định của các MPC. Những người mua nhà thấy được sự đảm bảo rằng họ không chỉ mua nhà không thôi mà họ còn mua khung cảnh thỏai mái, mua những đường phố an tòan, và mua các của hàng thuận tiện.

Những thứ này-vốn được gọi tùy tiện là tiện nghi- thực tế gần gũi với những người mua nhà thuộc giới thượng lưu. Tuy nhiên chúng chỉ được cung cấp một cách lung tung trong những thành phố không có quy hoạch, trong đó không một ai hoặc tất cả mọi người dường như chịu trách nhiệm về việc phát triển.

Chinh phục sự hỗn độn

Theo giáo sư John Reps, giáo sư danh dự thuộc Khoa Quy Hoạch Đô Thị và Quy Hoạch Vùng của Đại Học Cornell, từ “được quy hoạch” một cách nào đó là phần thú vị nhất của “Cộng Đồng Quy Hoạch Tổng Thể”. Ông giải thích trong thời kỳ hậu Chiến Tranh Thế Giới Thứ II khi kiểu mẫu mới nhất của khái niệm còn đang ở giai đọan trứng nước, những nhà phát triển quy mô lớn coi nhà quy họach đô thị như kẻ thù (đặc biệt ở California, khi nó xuất hiện lần đầu).

Tuy nhiên họ không bao giờ phản đối tự thân quy hoạch, họ chỉ phản đối quy hoạch vì mục đích công. Khi họ nhận thức rằng từ “được quy hoạch’ có một ngữ nghĩa tích cực của thuật ngữ “được kiểm soát” cho các khách hàng tiềm năng, các nhà quy hoạch chào đón quy hoạch vì mục đích tư nhân. Khi đó chính những nhà phát triển lại trở thành những nhà quy hoạch. Giáo sư Reps nói rằng nhà phát triển đã “tiếp quản ngôn ngữ”.

Nói chung giai cấp trung lưu được sở hữu đất đai ngày nay không tin vào các cơ quan nhà nước bảo vệ quyền lợi của họ trong nền công nghiệp BĐS. Vì vậy sẽ không ngạc nhiên khi thấy các MPC được đón nhận nhanh chóng ở nhưng nơi mà quyền kiểm sóat quy hoạch từ phía nhà nước là kém nhất và đó cũng là những nơi cac khu ở hầu như tiếp xúc hết với các lực lượng chuyển đổi của thị trường.

Thành phố Houston là một trường hợp điển hình như vậy. Sử gia về phát triển Richard Ingersoll đã mô tả các MPC ở ngọai ô Houston như là “một chuỗi các vùng được tự phân lô lòe loẹt xung quanh một thành phố không cho phép bản thân mình được quy hoạch[1]” Thực ra vào những năm 80 hầu như tất cả những nhà mới xây thuộc vùng đô thị Houston đều thuộc về các khu được quy hoạch tổng thể. Đó là cái mà Ingersoll gọi là một chiến thắng về mặt thuật ngữ BĐS cho vùng ngoại ô được quy hoạch tòan diện đối nghịch với tòan bộ phần còn lại của thành phố.

Ngay cả ở các tiểu bang miền Nam (Sun Belt states), “được quy hoạch” cũng có nghĩa một thứ gì đó khác đối với người mua nhà điển hình hơn đối với nhà quy hoạch điển hình. Đối với nhà quy hoạch đô thị, vấn đề chính là đường phố và khỏan lùi, còn đối với ngừơi mua nhà, nó là sự chinh phục hỗn độn.

Nhà phát triển thường là người hiểu rõ điều đó. Randy Jackson, chủ tịch của Trung Tâm Quy Hoạch, một công ty đa ngành có trụ sở chính tại Costa Mesa, California, đã làm việc với gần 200 quy hoạch trong sự nghiệp 35 năm của mình. Ông viết rằng bốn nền tảng của bản quy hoạch các MPC là: sức khỏe, giáo dục và việc học suốt đời, công nghệ và việc kiến tạo nên nơi chốn. Ông cho biết “Cung cấp những dịch vụ đó là một việc khó khăn hơn việc mang đường nội bộ cắt ngang một chỗ nào đó”.

“Những người giống chúng tôi”

Cuối cùng chúng ta gặp phần chủ chốt nhất của thuật ngữ “Cộng Đồng Quy Hoạch Tổng Thể”: từ “Cộng Đồng”. Vốn được quy hoạch cẩn thận bởi nhà phát triển- Ông chủ của cộng đồng được quy hoạch bởi ông chủ[2]- MPC đảm bảo rằng những người mua nhà sẽ được chọn trong một giới hạn nhân khẩu hẹp. Vì thế người mua nhà không chỉ mua tài sản mà còn mua cả một cộng đồng có những người giống mình về lối suy nghĩ.

Khái niệm này bán chạy bởi lẽ những va chạm thường ngày của đời sống được giảm bớt khi tất cả hàng xóm của bạn cùng chia sẻ với bạn các giá trị và các mục đích. Theo nghĩa đơn giản nhất “cộng đồng” nghĩa là “chúng ta” và những người giống chúng ta.

Các học giả người Úc Robyn Dowling và Pauline Mguirk mô tả những dự án như vậy là “nơi nương náu cho vùng ngoại vi của các giai cấp bị phân loại”, thứ đặc biệt hấp dẫn cho những người tìm kiếm sự đồng nhất về chủng tộc, sự phân biệt xã hội (bởi vì tính chất thượng lưu vốn có của họ) và sự an tòan.

Được phổ biến như ngày nay, những Cộng Đồng Quy Hoạch Tổng Thể trong hình thức hiện tại giống như các ốc đảo ở vùng ngoại ô. Chúng có thể đi đến kết thúc vì thiếu đất xây dựng và bởi người mua nhà muốn có tuyến đi tới nơi làm việc ngắn hơn hoặc rẻ hơn. Nếu điều đó xảy ra, thuật ngữ “Cộng Đồng Quy Hoạch Tổng Thể” có thể biến mất khỏi những tài liệu BĐS được phát vào ngày Chủ Nhật, hoặc thi thỏang lại xuất hiện trong lịch sử quy hoạch để mô tả một dạng phát triển đã có trong lịch sử. .

Ảnh 1. Công ty Irvine thỉnh thoảng cho khoảng hai tá các dự án phát triển lập nên Irvine Ranch như là các “Môi Trường Quy Hoạch Chung”. Đây là Đảo Thời Trang ở Newport Beach.

Ảnh 2. Một MPC điển hình ở Texas, gần Houston. Cộng Đồng Quy Hoạch Chung xuất hiện nhanh chóng ở những nơi việc kiểm soát quy hoạch của chính quyền là yếu kém nhất.



[1] Houston là một trong số rất hiếm các thành phố ở Mỹ không áp dụng Luật Phân Vùng Quy Hoạch (Zoning) - ND

[2] Master Planned Community có thể dịch theo nghĩa là cộng đồng được quy hoạch bởi người chủ.

Thứ Hai, 14 tháng 7, 2008

Câu chuyện qui hoạch đô thị

TTCN - Đã đến lúc chấm dứt hẳn tình trạng tù mù khi đưa ra những quyết định quan trọng đến tương lai của thành phố.

Công tác thiết kế và qui hoạch khi ảnh hưởng đến các công trình quan trọng cần phải có sự thẩm tra và phải có ý kiến của người dân.

Các phương pháp để người dân tham gia trong quá trình xây dựng, qui hoạch có rất nhiều và đã được các nước phát triển sử dụng từ lâu. Chúng ta hoàn toàn có thể tham khảo những gì họ đã làm. Thêm nữa, cần phải từ bỏ lối suy nghĩ chỉ có nhà “chuyên môn” về qui hoạch mới có thể nói chuyện qui hoạch. Vì lẽ, qui hoạch không phải là chuyện chuyên môn mà chính là việc quyết định hoàn cảnh sống của hàng trăm ngàn người. Xin hãy lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người dân.

Câu chuyện thứ nhất:

Robert Moses từng được coi là người xây dựng vĩ đại, người dựng những cây cầu, những xa lộ và các dự án nhà ở của thành phố New York. Nhưng Robert Moses đã đi vào lịch sử qui hoạch như một kẻ tội đồ. Bị ám ảnh bởi quyền lực và danh vọng do những xa lộ và những cây cầu do chính ông tạo ra, Moses đã san bằng nhiều khu dân cư ở New York như khu nam Bronx, khu Coney Island, đồng thời ông cũng là người chịu trách nhiệm trong việc cố tình phá hủy hệ thống giao thông công cộng của New York.

Thậm chí, để xây dựng tuyến đường nối liền Brooklyn và Manhattan, Moses còn muốn xây dựng một cây cầu mà hệ quả là việc phá hủy công viên Battery (nơi từ đó đưa du khách đến thăm tượng Nữ Thần Tự Do) và có khả năng đe dọa cảnh quan khu trung tâm tài chính New York. Đề xuất này tất nhiên vấp phải sự phản đối dữ dội của những nhà bảo tồn di sản, giới tài chính phố Wall và những chủ sở hữu bất động sản của khu vực. Cuối cùng, Moses phải lùi bước và giải pháp xây dựng đường ngầm qua sông thắng thế.

Vào những năm 1960, đề xuất xây dựng tuyến đường cao tốc hạ Manhattan của Moses với dự định cắt qua khu phố Harlem và SoHo nổi tiếng của New York cũng gặp phải sự chống đối của dân chúng. Kết cục dự án bị bãi bỏ vào năm 1964.

Như vậy, việc phá bỏ các công trình lịch sử, giải tỏa các khu dân cư đang đầy sức sống để làm đường cho xe cơ giới luôn đặt ra một câu hỏi: thành phố làm ra là để cho con người hay cho ôtô? Phá hủy các công trình văn hóa, các khu vực lịch sử để thay vào đó một thứ máy móc vô hồn (1) phải chăng làm cho thành phố tốt hơn?

Câu chuyện thứ hai:

Kansas City và vùng phụ cận là nơi có mức sống tương đối dễ chịu cho nhiều người dân Mỹ. Với thu nhập vào hạng khá so với bình quân thu nhập toàn nước Mỹ, Kansas City lại không thể nào địch được về mặt danh tiếng với những thành phố nghèo hơn như Saint Louis hoặc New Orlean chẳng hạn. Chẳng có ai nói Kansas City là một thành phố nổi tiếng, thay vì vậy khi nói đến vùng trung tây nước Mỹ người ta nhắc nhiều đến Saint Louis.

Điều này không phải là ngẫu nhiên: người ta biết đến Saint Louis bởi cái Cổng Vòm (The Gateway Arch) - một vòm cuốn bằng thép không gỉ cao hơn 180m, do kiến trúc sư lừng danh Eero Saarinen thiết kế. Công trình này được coi là công trình tưởng niệm cao nhất nước Mỹ. Kansas City không có một công trình kiến trúc nào tầm cỡ như thế nên dễ hiểu vì sao nó không có gì đọng lại nhiều trong tâm trí của người Mỹ.

Có thể coi Kansas City, như người Mỹ thường nói, là một nơi ở giữa của chẳng nơi nào (middle of nowhere). Chính những công trình kiến trúc có giá trị văn hóa cao đã tạo nên cá tính cho nơi chốn.

Câu chuyện thứ ba:

Nhà ga trung tâm New York do kiến trúc sư Charles McKim thiết kế theo phong cách Beaux-Arts được coi như một viên ngọc của thành phố New York. Từ những năm 1950-1960, một loạt hành động phá dỡ nhà ga trung tâm New York (thường được biết đến với cái tên Penn Station) xảy ra. Đứng trước nguy cơ mất hoàn toàn một công trình có giá trị kiến trúc và lịch sử, năm 1965 thành phố New York chuẩn y luật bảo tồn cảnh quan.

Mục đích là bảo vệ các công trình lịch sử khỏi bị biến dạng và phá hủy nếu không có sự thẩm tra của công chúng và sự cho phép của chính quyền. Không lâu sau Công ty Penn, đơn vị quản lý Penn Station, đề xuất xây dựng một tòa tháp cao 55 tầng ngay phía trên nhà ga trung tâm. Đề xuất này nhanh chóng bị Ủy ban Bảo tồn cảnh quan của thành phố New York phản đối. Sau đó nhà ga đưa đơn kiện lên tòa án của bang và cuối cùng vụ án được Tòa án tối cao Mỹ thụ lý.

Năm 1978 Tòa án tối cao Mỹ phán quyết như sau: đơn kiện của nhà ga Penn cho rằng thành phố New York ngăn cấm việc xây dựng trên khoảng không của nhà ga như “sự tước đoạt quyền lợi” là sai trái. Đây là một tranh chấp nổi bật trong lịch sử qui hoạch đô thị và bảo tồn. Lần đầu tiên trong lịch sử, tòa án bên nguyên đã đưa ra lý lẽ: thẩm mỹ tự thân cũng đáng được bảo vệ. Vụ án chứng tỏ một công trình có giá trị lịch sử là đáng được bảo tồn. Như vậy lần đầu tiên giá trị văn hóa đã được bảo vệ trước tòa án (2).

Các công trình văn hóa chính là những biểu tượng của thành phố. Nhờ chúng mà người ta phân biệt thành phố này với thành phố khác. Chúng chính là đặc trưng của một thành phố. Đặc trưng ấy cũng giống như đặc trưng của một con người. Nó phải là cái riêng, cái không lẫn vào đâu được, nó phải là cái khẳng định cái “tôi” của thành phố.

Theo nhà qui hoạch đô thị lỗi lạc Kevin Lynch, một thành phố cần có được bảy yếu tố: sự sống động, tri giác về địa điểm, sự phù hợp, khả năng tiếp cận, khả năng kiểm soát, tính hiệu quả và cuối cùng là tính công bằng. Trong các yếu tố đó, tri giác về nơi chốn (sense of place) là yếu tố cực kỳ quan trọng và thường được các nhà qui hoạch đô thị đưa lên hàng đầu như một tiêu chí cho qui hoạch.

Có thể kể ra rất nhiều về ý nghĩa của cảm nhận về nơi chốn. Chẳng hạn đó chính là yêu cầu về đặc trưng của vị trí. Đó chính là khả năng mà con người có thể nhận dạng một nơi như một vị trí khác hoàn toàn với các nơi khác, đó có thể là tính độc nhất vô nhị của địa điểm, có thể khơi gợi lại các kỷ niệm của nơi mà ta đã từng qua.

Như Lynch nói: Cá tính của một nơi nào đó cũng rất gần với cá tính con người. “Tôi ở đây” (I am here) hỗ trợ cho câu nói “Tôi đây” (I am) (3). Một thành phố nhợt nhạt không bản sắc cũng giống như một con người không có tên. Chẳng ai nhớ đến thành phố đó, ngay cả cư dân của nó. Liệu chúng ta đã sẵn sàng phá nát bản sắc của thành phố?

Từ câu chuyện của nước Mỹ mới nhìn lại thành phố của chúng ta. Ý tưởng xóa sổ Thư viện Khoa học tổng hợp Đà Nẵng, đẩy Bảo tàng Điêu khắc Chăm xuống gầm cầu, tất cả những “sáng kiến” đó sẽ ủi sạch dấu ấn của thành phố. Đà Nẵng dẫu có được đường cao tốc, trung tâm thương mại hiện đại nhưng chẳng có nổi nét riêng của mình.

Người Đà Nẵng sẽ không còn gì để nhớ về thành phố của mình nữa. Thay vào đó, nơi trước kia từng là thư viện với vòm cây xanh mướt (một thứ xa xỉ trong lòng những thành phố lớn), với công trình cổ trầm tư giờ sẽ là một cao ốc ngất trời với bóng lộn những chiếc xe đắt tiền và những ô cửa kính của các Coco Channel, Nautica hoặc Gucci kênh kiệu nhìn khách qua đường, biến họ thành lạc loài. Liệu Đà Nẵng của chúng ta có muốn đánh đổi những báu vật của người xưa để lấy “cuộc sống hàng hiệu” đó không?

Cuối cùng xin nói thêm về hai chữ hiện đại và phát triển. Đừng nghĩ hiện đại hoặc phát triển là tất cả. Nếu hiện đại là hi sinh những giá trị của thành phố mà Lynch đã nêu thì nên suy nghĩ lại tốc độ phát triển. Chính phủ Trung Quốc sau thời kỳ say sưa với tốc độ phát triển chóng mặt nay đã phải tự nhìn lại. Họ hiểu rằng với tốc độ hủy hoại môi trường như hiện nay thì cái giá phải trả cho tương lai sẽ là quá đắt.

(1) Ở đây tôi muốn mượn ý của Mumford khi ông dùng từ monotechnic để chỉ loại công nghệ chỉ phục vụ bản thân nó. Mumford coi mạng lưới giao thông của nước Mỹ như một điển hình của monotechnic khi đối tượng phục vụ của nó là ôtô chứ không phải con người.

(2) Barlow Burke - Tìm hiểu luật phân vùng qui hoạch và sử dụng đất. Nhà xuất bản Lexis Nexis.

(3) Kevin Lynch - Hình thức hoàn hảo của thành phố. Nhà xuất bản MIT Press.

NGUYỄN HỒNG NGỌC (Học viên cao học ngành qui hoạch đô thị Đại học Kansas)

Thứ Năm, 10 tháng 7, 2008

Land Developer (Nhà phát triển bất động sản)

Nhà phát triển bất động sản cải tạo hoặc xây mới các bất động sản, bằng cách đó tạo ra hoặc tăng thêm giá trị địa ốc. Nhà phát triển có thể là cá nhân nhưng họ có thể là một partnership (doanh nghiệp dựa trên mối quan hê hợp tác), có thể là công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc các tập đoàn. Tuy nhiên bất kỳ ai liên quan như một chủ thể đến quá trình phát triển bất động sản đều được coi như nhà phát triển. Một nhà phát triển bất động sản có thể chọ phát triển một loại công trình như nhà ở, văn phòng thương mại, công nghiệp, bán lẻ, hoặc có thể chọn theo môi trường địa lý. Nền tảng giáo dục của nhà phát triển mới chỉ thực sự tồn tại cho đến những thập niên gần đây bởi lẽ nhiều nhà phát triển xuất thân từ những nghề như kiến trúc, tài chính, quy hoạch đô thị, kỹ sư hoặc thầu xây dựng. Nhiều công ty phát triển bđs cũng do gia đình sở hữu và điều hành.

(Biên dịch từ mục từ: Developer (land) của Wikipedia. Đ/c: http://en.wikipedia.org/wiki/Developer_%28land%29)

Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2008

Quan điểm

Quan điểm[1]

Deepika Andavarapu

Nguyễn Hồng Ngọc dịch

Có rất nhiều điều mà Ấn Độ có thể học từ phương Tây và ngược lại. Nhưng từ khi tôi tới Hoa Kỳ vào năm 2004, tôi lại thấy rất ít sự tranh đua thông thái này. Thường thường thì những sai lầm được sao chép lại hơn là những tấm gương tốt. Vào lúc mà việc thiết kế những cộng đồng theo định hướng phục vụ người đi bộ nhận được sự chú ý ngày càng tăng ở phương Tây, thì tình hình ngược lại tại phương Đông. Giai cấp trung lưu Ấn Độ mua xe hơi với tốc độ ngày càng tăng, trong khi đó họ bỏ qua mạng lưới giao thông công cộng tuyệt vời của đất nước. Cũng thời gian đó rất nhiều vùng nông thôn của Ấn Độ bị cắt lìa khỏi khỏi phần còn lại của đất nước bởi những còn đường nhỏ hẹp và ùn tắc cũng như bởi hệ thống cơ sở hạ tầng được tu bổ kém.

Tương tự như vậy khi các thành phố của Hoa Kỳ đang nhận ra giá trị của loại nhà dành cho đa thành phần thu nhập (mixed income housing), các thành phố của Ấn Độ đang phá hủy nhưng khu ổ chuột và đang tiến tới với những chương trình tái định cư khổng lồ mà không chú ý nhiều về những hệ quả tới dân nghèo.

Thực tế là nhiều thành phố của Ấn Độ có hệ thống giao thông công cộng tuyệt vời. Theo Sách Guiness về các kỷ lục của Thê giới, vào năm 1999 hệ thống giao thông công cộng ở bang Andhra Pradesh có đội xe bus lớn nhất thế giới (18. 397 chiếc). Và cả vùng phụ cận của Mumbai và Calcutta đêu có mạng lưới đường sắt dày đặc. Nếu hệ thống giao thông công cộng hiện thời được cải tạo và làm cho có hiệu quả hơn chúng có thể giải quyết được nhiều vấn đề giao thông của đất nước cũng như tạo ra tác động thấp nhất tới môi trường.

Nói như thế không phải là chê bai mô hình của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ có một hệ thống xa lộ kết nối tốt cung cấp việc vận chuyển giao thông rất tốt và khả năng di chuyển rộng cho một phần lớn dân cư. Nhưng hệ thống giao thông nhiều làn đó cũng có giá của nó: khí thải gây hiệu ứng nhà kính, mức độ lệ thuộc vào ô tô, lệ thuộc vào dầu mỏ nước ngòai, v.v…Trước khi hệ thống này trải lên các vùng đất qúy giá và tiếp tục xây dựng nên những xa lộ mới to lớn hơn, Ấn Độ cần phải nhìn về thế giới phương Tây và xem xét những giải pháp giao thông nào là được và không được, và sau đó tạo nên các giải pháp toàn diện cho những vấn đề giao thông riêng biệt. Một giải pháp mang tính bản địa là tốt nhất cho nên kinh tế quốc gia và cho tính bền vững cho quốc gia đó.

Nhà ổ chuột rõ ràng là vấn nạn cần phải giải quyết. Hầu hết người Ấn không thể tiếp cận được tới những dịch vụ cơ bản như nước uống, điện, hệ thống thoát chất thải. Nhưng trong nhiều trường hợp, các khu ổ chuột của thành phố là giải pháp nhà ở cuối cùng cho người nghèo. Kế hoạch loại bỏ chúng như một phần của chiến lược làm đẹp và tái phát triển đô thị cần phải xem xét đến khía cạnh này.

Ý tưởng về việc cải thiện điều kiện sống của người nghèo là một lý tưởng đáng biểu dương. Cuối cùng Ấn Độ là quốc gia của một phần sáu dân số trên thế giới, đồng thời cũng là một trong những nước phát triển nhất. Tuy thế chúng ta có thể thấy ở Hoa kỳ những dự án nhà ở đồ sộ có thể dẫn đến kết cục thảm họa như thế nào nếu tính năng động của các khu dân cư không được tính đến.

Những nhà lãnh đạo Ấn Độ phải quyết định những vấn đề khó khăn trong vòng vài năm tới. Họ có thể theo con đường dễ dàng và vá víu lên hệ thống cơ sở hạ tầng mà không cố gắng giải quyết vấn đề thực sự, hoặc họ có thể theo con đường khó khăn và học từ những ví dụ tốt khắp thế giới. Họ có hưởng lợi từ những sai lầm của phương Tây rồi theo các chính sách khiến Ấn Độ sạch hơn, xanh hơn, cũng nhờ thế làm cho hành tinh của chúng ta xanh hơn

Ấn Độ có những thành phần cơ bản (sử dụng đất hỗn hợp, xây dựng mật độ cao, và mạng lưới giao thông công cộng) để tạo nên những vùng đô thị sống động mang tính bền vững. Nhưng để làm điều đó nó cần có những lãnh tụ sẵn long học từ những sai lầm của quá khứ và lái đất nước theo con đường đúng đắn, theo định hướng xanh.

Rất nhiều nhà hoạch định chính sách nhận ra nhu cầu này và đã khởi xướng các chương trình cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng ở các thành phố lớn của Ấn Độ cũng như ở vùng nông thôn. Đối với một người như tôi, khi trở về nhà, đất nước hãy còn như ở trong tình trạng đang được xây dựng. Như vậy, tôi tự hỏi nước Ấn Độ mới sẽ trông như thế nào?

Deepika Andavarapu hiện là Quyền Quản lý của Sở Quy hoạch Hạt Leon thuộc thành phố Tallahassee bang Florida. Bà là người gốc Ấn Độ và đã ở Hoa Kỳ được bốn năm.




[1] Viewpoint (quan điểm) là chuyên mục thường kỳ của Tạp chí Quy Hoạch, tạp chí xuất bản hàng tháng thuộc Hiệp Hội Quy Hoạch Hoa Kỳ. Như tên của đề mục, đây là diễn đàn để các nhà quy hoạch bày tỏ quan điểm của mình.

Thứ Tư, 4 tháng 6, 2008

NHÀ QUY HOẠCH LÀ AI?

NHÀ QUY HOẠCH LÀ AI

Tác giả William A. Klein

Nhà quy hoạch được cấp chứng chỉ thuộc Viện Hàn Lâm Hoa Kỳ (AICP)

Nếu bạn cũng giống tôi, bạn sẽ phải đương đầu với nhiệm vụ dễ nản lòng khi phải giải thích cho bọn trẻ quy hoạch là gì và nhà quy hoạch làm gì. “Bố ơi, bố làm gì ở cơ quan?” Ồ, Những đôi mặt trợn tròn[1]. Chẳng cần phải nói, tụi trẻ của tôi không hỏi câu hỏi này lần thứ hai.

Giải thích quy hoạch là gì và nhà quy hoạch làm gì có thể khó khăn như nhau khi người hỏi là ngài thị trưởng, lãnh đạo doanh nghiệp, người dân hoặc các quan chức tiểu bang và liên bang, hoặc các đối tác của các tổ chức phi chính phủ. Làm thế nào bạn chưng cất được tất cả những điều mà nhà quy hoạch phải làm thành một mảnh kiến thức hoàn hảo và đầy đủ thể hiện đầy đủ những kỹ năng đặc biệt của nhà quy hoạch và năng lực của họ khi giải quyết tương lai.

Bạn muốn giải thích giám đốc quy hoạch và nhân viên của mình được phân công một cách có tính chiến lược như thế nào để giúp tạo ra những cộng đồng có giá trị lâu dài, đó là những cộng đồng cung cấp các lựa chọn cho nơi nào và làm thế nào con người sống và làm việc. Bạn muốn thuyết phục mọi người rằng quy hoạch tốt tạo ra niềm hy vọng tốt nhất để lôi kéo các nhà lãnh đạo, các lợi ích kinh doanh và những người dân.

Trong khoảng thời gian điều hành phòng nghiên cứu của APA- Hiệp Hội Quy Hoạch Hoa Kỳ, tôi thường xuyên phải giải thích những lợi ích của quy hoạch cho những người góp quỹ ủng hội Hội và các đối tác nghiên cứu. Tôi phát hiện ra rằng người ta thường bắt đầu với một hiểu biết rất sơ lược về vị trí chiến lược của nhà quy hoạch và nghề của họ.

Trong khi tôi nghĩ về những thuật ngữ như tính chất lâu dài (long-range), tính tổng thể, tính theo đuổi các giá trị (value-driven), sự xuất sắc đa lĩnh vực, thì họ thường có vẻ như nghĩ về những thứ ngược lại. Họ hay hỏi những câu hỏi như “Tại sao chúng tôi phải đưa tiền của chúng tôi để chuẩn bị một tài liệu hướng dẫn cách thực hành tốt nhất (best practices manual) nhằm tích hợp việc giảm rủi ro trong tất cả các giai đoạn quy hoạch?” hoặc “Tại sao điều quan trọng với đối tác là cùng với các ông phát triển một tài liệu hướng dẫn về kết hợp thay đổi khí hậu và các vấn đề năng lượng vào những thứ mà nhà quy hoạch làm?”

Nhưng điều mà họ thực sự muốn biết là “Tại sao lại cần nghề quy hoạch và nhà quy hoạch”. Tôi cũng gặp cùng câu hỏi đó vào ngày tôi đứng trước Ủy ban Tài chính để điều trần về ngân sách

Câu trả lời vượt ra ngòai cách trả lời thông thường: đó là nhà quy hoạch suy nghĩ một cách tổng quát và có một tầm nhìn xa. Theo tôi, cần nhà quy hoạch bởi vì cương vị của họ thật đặc biệt. Họ là người đóng vai trò chủ đạo trong những gì mà tôi gọi là năm điểm quyết định của sự can thiệp. Và hành động của họ có tác động cực mạnh tới tương lai của thành phố, thị trấn, các hạt (counties) và các vùng.

Năm điểm

Tôi thường giải thích nhà quy hoạch làm gì và nghề quy hoạch là gì cho những người tay mơ bằng cách sử dụng năm điểm vốn là những địa hạt quen thuộc với bất kỳ một nhà quy hoạch kỳ cựu nào. Bạn có thể thử kết hợp chúng vào những đề xuất với những người cộng tác và những người đóng góp tài chính vốn là những người có thể không hiểu nhà quy hoạch và nghề quy hoạch tạo ra sự khác biệt như thế nào.

· Kiến tạo tầm nhìn và xác lập mục đích.

Khi nhà quy hoạch thực hiện nhiệm vụ kiến tạo tầm nhìn lâu dài, họ giúp đỡ địa phương xác định điều gì quan trọng với tương lai bằng việc đề cập đến giá trị bản chất của quy hoạch. Xác lập mục đích và mục tiêu cho một địa phương thường là cơ hội đầu tiên và tốt nhất để địa phương đó phất nêu lên vấn đề để thu hút sự chú ý nghiêm túc sau này trong quá trình quy hoạch. Những nhiệm vụ này thường bao gồm phân tích hoàn cảnh của các chính sách chọn lựa nhằm giúp đỡ cho người ra quyết định thấy được các tác động của hành động tương lai.

· Lập quy hoạch

Nhà quy hoạch giúp các thị trấn, thành phố, các hạt và các khu vực (region) chuẩn bị quy hoạch tổng thể toàn địa phương; những tiểu vùng (như một khu vực lân bang[2]-neighborhood, trung tâm thành phố, và quy hoạch các hành lang (giao thông, hoặc hành lang xanh-ND); các quy hoạch chức năng (giao thông công cộng, xa lộ, hệ thống nước thải, cấp nước, và quy hoạch không gian mở- open space plan). Chúng đánh giá các điều kiện hiện tại và xu hướng, mô tả hành động được lên kế hoạch, chỉ định trách nhiệm và chi phí. Những bản quy hoạch này tạo nên khuôn khổ cho các công cụ quản lý và cho đầu tư tương lai của cả khối tư nhân lẫn nhà nước.

· Các công cụ quản lý

Nhà quy hoạch vạch ra, viết và tổ chức các quy định (ordinance), luật, và các khuyến khích dựa trên quy hoạch họ tạo ra. Những biện pháp này ảnh hưởng đến việc công trình được xây dựng ở đâu và như thế nào cũng như đất đai được bảo tồn ở đâu và như thế nào. Chúng xác định khi muốn phát triển một chỗ nào đó cần phải có những điều gì và chúng cho nhà phát triển (developers) biết cần phải có những tài liệu gì khi họ trình kế hoạch phát triển của mình. Ví dụ của các công cụ này bao gồm các quy định cho luật phân vùng quy hoạch (zoning), quy hoạch phân lô, kế hoạch phát triển các đơn vị theo quy hoạch (planned unit development[3] hay PUD) và phát triển theo định hướng giao thông công cộng (transit-oriented development[4]), và điều lệ xây dựng dựa theo hình thức (form based code[5]).

Các công cụ quản lý có thể dựa trên các phương pháp bắt buộc, như mua quyền phát triển[6]. Các công cụ quản lý bổ sung có thể có một hiệu quả tích cực hoặc tiêu cực lên tính chất của khu vực, tính toàn vẹn của môi trường, khả năng sử dụng năng lượng, sự thay đổi khí hậu, lựa chọn nhà ở và nhà ở xã hội, kinh tế, sức khỏe cộng đồng và giao thông.

· Phê duyệt phát triển

Khi những nhân viên sở quy hoạch duyệt quy hoạch do nhà phát triển chuẩn bị, họ có cơ hội tuyệt vời để mang những điều kiện đưa ra ánh sáng các điều kiện, yếu tố và các biến số ảnh hưởng đến quyết định để chấp thuận, chấp thuận một cách có điều kiện, hoặc không chấp thuận dự án.

Có một điều, nhân viên quy hoạch phải đảm bảo rằng đề xuất phát triển phải đầy đủ- đó là nó phải có tất cả các thông tin cần thiết để cho phép Ban quy hoạch hoặc các tổ chức có thẩm quyền ra một quyết định dựa trên thông tin đầy đủ. Thứ hai, một phê duyệt địa điểm đầy đủ tăng khả năng rằng đề xuất phát triển sẽ mang lại kết quả đáng giá cho cả cộng đồng. Cuối cùng tùy thuộc vào nhân viên thương lượng các vấn đề về quyền sử dụng đặc biệt hoặc có điều kiện mà thường thường đòi hỏi sự sắc sảo trong quá trình phê duyệt quy hoạch địa điểm.

· Sự đầu tư của khối công cộng[7]

Không phải tất cả những giám đốc quy hoạch hoặc nhân viên của họ đảm đương được vai trò tiên phong trong việc chuẩn bị chương trình cải thiện tài chính (capital improvement program[8]) của địa phương. Đó là kế hoạch xác định nguồn đầu tư cơ sở hạ tầng, công trình nhà nước sẽ đặt ở đâu. Lẽ ra họ nên nắm lấy vai trò lãnh đạo đó. Những ai đóng vai trò tiên phong trong quá trình sẽ có ảnh hưởng quan trọng trong tương lai.

Hãy thử, bạn sẽ thích chúng

Trong khi tính hiệu quả của năm điểm can thiệp chiến lược có thể quá rõ ràng với nhiều người làm việc trong lĩnh vực quy hoạch thì nó lại không như thế đối với người ngòai. Bạn hãy thử làm việc với phiên bản 30 giây, hoặc “bài diễn thuyết trong thang máy[9]” về năm điểm trên. Rồi sau đó là những phiên bản diễn tập hai phút rồi sử dụng chúng với những đối tác, hoặc người ủng hộ tiềm tàng. Bạn có thể thấy như tôi rằng lời nhắn đi xa theo hướng giải thích nhà quy hoạch làm gì và tại sao lại cần nghề quy hoạch. Nhờ thế tôi càng nhận được ít cái trợn mặt hơn.

Bài dịch từ số tháng 11 năm 2007 của Tạp chí Quy Hoạch- tạp chí hàng tháng của Hiệp Hội Quy Hoạch Hoa Kỳ.

http://www.planning.org/planning/member/2007nov/secretsside.htm



[1] Blank stares: dịch nghĩa: cái nhìn trống không, ý nói người nhận được câu trả lời chẳng hiểu câu trả lời có nghĩa là gi.

[2] Neighborhood: khu vực lân bang là một khái niệm cơ bản của quy hoạch. Nó là một khu vực địa lý có đường biên xác định, và có tính chất đặc trưng có thể phân biệt với các khu vực khác trong đô thị. Những người trong khu vực lân bang thường có ý thức sâu sắc về tính chất của khu vực mình ở- ND

[3] Planned unit development: kế hoạch phát triển các đơn vị theo quy hoạch là những quy định sử dụng đất của một địa phương khuyến khích sự phát triển quy mô lớn và thống nhất bằng các chương trình thực tế, trung hạn trong việc chỉnh sửa các khiếm khuyết về hình thể, xã hội và kinh tế trong sử dụng đất và cảnh quan đô thị. Nó cho phép nhà phát trỉển không tuân theo một số quy định nghiêm ngặt của luật phân vùng quy hoạch (zoning). Nhà phát triển có thể tư do hơn và sang tạo hơn trong việc xây dựng dự án của mình- ND.

[4] Transit-oriented development: Phát triển theo định hướng giao thông công cộng (TOD) là một khu vực dân cư hoặc thương mại phát triển hỗn hợp được thiết kế nhằm mục đích tối ưu điều kiện sử dụng các phưong tiện giao thông công cộng, và thường kết hợp các đặc điểm nhằm tăng lượt sử dụng giao thông. Một khu vực TOD điển hình có một trung tâm với một bến tàu, metro, tram hoặc bến xe buýt bao quanh bởi khu vực xây dựng mật độ cao với mức độ giảm dần từ tâm. TOD thường được đặt trong vòng bán khính 400m đến 800 m từ điểm đỗ giao thông công cộng vì đây là khoảng cách thích hợp nhất với người đi bộ.

[5] Form-based codes: Điều lệ dựa trên hình thức, là một loại luật lệ của cộng đồng đề cập đến mối quan hệ giữa các mặt đứng của tòa nhà và đất công cộng, hình thức và khối tích của tòa nhà trong mối quan hệ với nhau, cũng như tỷ lệ và dạng của đường phố và khối phố. Luật lệ và tiêu chuẩn trong Điều lệ theo hình thức được trình bày trong cả dạng sơ đồ và từ, chúng là yếu tố thiết yếu trong quy hoạch pháp lý (regulation plan) vốn định rõ hình thức và tỷ lệ thích hợp (và vì thế đặc điểm) của dự án hơn là chỉ xác định kiểu sử dụng đất. Điều này tương phản với sự quan tâm của luật phân vùng quy hoạch về quan lý vi mô và tách biệt chức năng sử dụng đất, và việc kiểm soát mật độ xây dựng thông qua các thông số trừu tượng và không đồng bộ nhau (ví dụ: tỷ lệ diện tích sàn, số đơn vị trên một mẫu Anh, khoảng lùi, chỉ tiêu đỗ xe) để bỏ qua hình thức kết hợp của công trình. Không nên lẫn lộn Điều lệ dựa trên hình thức mang tính luật lệ với Định hướng thiết kế hoặc các chỉ đạo chung về chính sách vốn mang tính khuyến cáo.

[6] Purchase of development right: mua quyền phát triển là một công cụ dung trong quy hoạch bảo tồn, khi muốn bảo tồn một khu vực lịch sử hoặc một khu vực nhạy cảm về môi trường. Chính quyền địa phương có thể mua quyền phát triển của khu vực đó. Người sở hữu khu vực được mua quyền phát triển vẫn sinh sống bình thường nhưng không còn được sử dụng quyền phát triển của mình nữa. Điều này khác với quy hoạch treo của Việt Nam, ở đây người sở hữu khu vực được nhận tiền và vẫn được sống bình thường, chỉ có điều họ không được phép xây dựng với mật độ cao.

[7] Public investment: sự đầu tư của khối công cộng. Public đây có thể hiểu là khối công cộng gồm cả nhà nước, chính quyền địa phương và những gì thuộc sở hữu công. Sự đầu tư của khối công (public investment) đối lại với sự đầu tư của khối tư nhân (private investment).

[8] Capital improvement program: là các chương trình cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng.

[9] Elevator speech: bài diễn thuyết trong thang máy, ý nói những mẩu trao đổi nhanh trong thang máy nhưng mang lại hiệu quả lớn.

Kevin Lynch- Good City Form- Hinh thuc hoan hao cua thanh pho